Thursday, 10 March 2011

Nữ Phi hành gia Tracy C Dyson, hai lần lên vũ trụ


Nữ Phi hành gia Tracy C Dyson, hai lần lên vũ trụ
Cập nhật lúc 10:39:55 PM - 09/03/2011

Tracy-Caldwell-DysonDSC_921.jpg

Phi hành gia TS. Tracy Caldwell Dyson tại đại học UC Irvine ngày 7-3-2011 – ảnh: Vincent Thái/Viễn Đông

Vincent Thái/Viễn Đông (thực hiện)


IRVINE – Một trong số ít nữ phi hành gia, khoa học gia thuộc thế hệ sau khi phi thuyền Apollo 11 lần đầu tiên đưa người lên mặt trăng năm 1969, Tiến Sĩ Tracy Caldwell Dyson, 41 tuổi, đã tham dự hai chuyến phi hành lên vũ trụ. Hôm Thứ Hai, 7-3-2011, TS. Caldwell Dyson đến thuyết trình tại đại học University of California, Irvine, và trước buổi nói chuyện, bà đã dành cho phóng viên Viễn Đông một cuộc phỏng vấn.

TS. Caldwell Dyson tốt nghiệp cử nhân Hóa Học từ đại học California State University, Fullerton, năm 1993, và tiến sĩ cùng chuyên ngành từ đại học University of California, Davis, năm 1997. Sau đó, bà tham dự chương trình nghiên cứu hậu tiến sĩ tại đại học UC Irvine.

Ngày 25-9-2010, nữ phi hành gia Caldwell Dyson đáp xuống Kazakhstan sau 176 ngày trên không gian trong chuyến bay mới nhất trên phi thuyền Soyuz TMA-18. Trước đó, năm 2007, TS. Caldwell Dyson bay cùng phi thuyền Endeavour 12 ngày lên Trạm Không Gian Quốc Tế. Tính tổng cộng, từ khi làm việc với Cơ Quan Không Gian Hoa Kỳ NASA tháng 8-1998 đến nay, TS. Caldwell Dyson đã bay hơn 188 ngày trên không gian, với hơn 22 giờ lơ lửng ngoài vũ trụ thực hiện việc lắp ráp, sửa chữa, kiểm soát các máy móc trang bị.

Viễn Đông: Xin bà vui lòng cho biết về công việc hiện tại của bà với cơ quan NASA?

TS. Tracy Caldwell Dyson: Vâng, tôi là một nhân viên hỗ trợ phi hành gia. Chúng tôi gọi là C-bình phương, viết tắt của hai chữ “cape crusader” (tạm dịch, người liên lạc giữa hai trạm, hỗ trợ phi hành đoàn). Công việc của tôi là đưa phi hành đoàn vào vị trí để chuẩn bị bay lên quỹ đạo và trợ giúp họ khi họ đáp. Chúng tôi là những người đầu tiên và cũng là những người cuối cùng gặp phi hành đoàn trước khi họ bay lên không gian hay đáp xuống. Đội ngũ của tôi gồm những phi hành gia trực thuộc Trung Tâm Không Gian Kennedy.

Viễn Đông: Cảm giác của bà khi đi bộ ngoài vũ trụ? Và khi được ăn sinh nhật thứ 38 của mình bên ngoài trái đất?

TS. Caldwell Dyson: Rất giống những lần tập luyện, về mặt thể lý thì rất cam go vì chúng tôi phải dùng hết tất cả các cơ bắp trên thân thể, do bộ áo phi hành gia mặc chứa đầy áp suất bên trong. Bộ áo đó cũng rất gồ ghề và phải mất nhiều năm luyện tập mới quen được. Tuy đòi hỏi sự cố gắng, sau khi quen rồi thì tôi cảm thấy cũng tương đối thoải mái bởi vì môi trường thực tập cũng giống như lúc thực hành. Bước ra ngoài không gian cũng đòi hỏi sự tập trung cao độ trong khi vừa thực hiện công tác vừa phải lắng nghe chỉ dẫn của bộ phận điều khiển phi thuyền. Ngoài ra lại còn phải để ý đến những phi hành gia khác trong đội cũng như người phối hợp công việc với mình nữa.

À, còn về sinh nhật của tôi trên không gian, hồi năm 2007, quả là một kinh nghiệm hay vì lịch trình công tác trùng vào ngày sinh nhật, một điều hiếm khi xảy ra vì đợt đó tôi bay chỉ hơn chục ngày. Ngày hôm đó, các em trong nhà trẻ của mẹ tôi hát một bài mừng sinh nhật tôi, và nhóm điều khiển phi thuyền gửi tín hiệu có dòng chữ “Birthday Girl”. Còn phi hành đoàn thì lấy một cái bánh sô-cô-la “brownie” và bật đèn pin lên làm đèn cầy. Họ thật là dễ thương.

Viễn Đông: Điều gì đã gợi cảm hứng cho bà trở thành một phi hành gia?

TS. Caldwell Dyson: Tại sao muốn trở thành phi hành gia ư? Bất cứ ai từng sống ở vùng sa mạc và có dịp nhìn lên bầu trời to lớn đầy sao, có lẽ cũng đều ước ao một lần lên đó cho biết. Tôi biết mình thực sự muốn trở thành một phi hành gia từ năm lớp 11 ở trung học, đó cũng là thời điểm mà báo chí, truyền hình nói nhiều đến cơ quan NASA và công tác phóng phi thuyền lên vũ trụ. Đó là năm 1986, năm mà cô giáo đầu tiên, Christa McAuliffe, bay lên vũ trụ. Trước đó, tôi không nghĩ nhiều đến các phi hành gia, vì họ có vẻ không có gì quyến rũ lắm, và tôi cũng không thích quân sự. Nhưng khi nghe tin một cô giáo bay lên không gian, thì, wow, thầy cô chính là người ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày của tôi, không chỉ một thầy mà 6 thầy cô giáo tôi gặp mỗi ngày đi học. Thời gian tôi được tiếp xúc với thầy cô giáo còn nhiều hơn là với ba mẹ tôi nữa, cho nên tôi thấy điều gì đó thật gần gũi, và tôi bắt đầu tìm hiểu về các phi hành gia này. Ở tuổi đó, tôi chưa nghĩ mình sẽ trở thành khoa học gia. Nhưng trong các ngành khoa học, tôi thích nhất là hóa học và thích tìm hiểu những câu hỏi như là tại sao nước sôi, tại sao bầu trời màu xanh, cái gì làm nên một bụi cây, một thân cây, v.v.. Tôi cũng được biết các phi hành gia phải giữ cho thân thể luôn luôn khỏe mạnh và nghe nói là một trạm không gian quốc tế sắp sửa được dựng nên. Khi lên lớp 12, tôi vẫn chưa biết mình sẽ làm gì sau này. Ba mẹ tôi đề nghị tôi nên viết ra một danh sách những gì tôi thích làm, nào là thích vọc những món đồ nghề của ba tôi, thích học ngoại ngữ (tôi biết đôi chút tiếng Tây Ban Nha và biết ngôn ngữ dấu hiệu), nào là thích tìm hiểu văn hóa khác, v.v.. Sau khi tôi so sánh danh sách của mình với những sở thích và công việc của các phi hành gia, tôi thấy khá giống. Thế là tôi nhảy ngay vào nghề nghiệp này, lên đại học, học tiếp lấy bằng tiến sĩ, và tham dự huấn luyện để thành một phi hành gia.

TracyCDyson-NASA.jpg

Phi hành gia Tracy Caldwell Dyson, giữa, và hai đồng nghiệp Ken Ham (treo lơ lửng trên trần) và T. J. Creamer, trong tình trạng không trọng lượng ở bên trong một khoang của Trạm Không Gian Quốc Tế ISS ngày 22-5-2010 – ảnh: NASA.

Viễn Đông: Là một phụ nữ lên không gian, bà nhận thấy có những gì thuận lợi hoặc bất lợi hơn so với đồng nghiệp nam giới?

TS. Caldwell Dyson: Thông thường là bộ quần áo của phi hành gia, nhất là lúc phải đi vệ sinh cá nhân (Cười). Ngoài điều đó ra, mọi thứ gần giống nhau cho đàn ông và phụ nữ.

Viễn Đông: Nếu một người trẻ muốn trở thành một phi hành gia, bà sẽ khuyên họ điều gì?

TS. Caldwell Dyson: Bạn trẻ đó nên tiếp tục học hành tử tế và siêng năng. Muốn trở thành một phi hành gia giỏi cần có kiến thức rộng và phải biết sắp xếp việc gì trước, việc gì sau. Nhưng điều quan trọng nhất là bạn trẻ cần phải thực sự yêu thích điều mình muốn theo đuổi. Phải yêu nghề. Nhưng cũng không có gì bảo đảm là một người có cơ hội trở thành một phi hành gia, cho nên cũng cần phải có sẵn một cái dù để nhảy ra, đáp xuống an toàn, nhỡ như công việc này không thích hợp với mình.

Viễn Đông: Khi nào thì bà sẽ lại bay lên không gian? Bà muốn thực hiện công tác gì lần tới? Và có một độ tuổi nào nhất định một phi hành gia phải nghỉ hưu không?

TS. Caldwell Dyson: Ngay lúc này thì tôi chưa biết. Chồng tôi đang phục vụ cho Hải Quân Hoa Kỳ, nên chúng tôi đang chờ xem bên quân đội sẽ giao nhiệm vụ gì cho anh ấy trước khi tôi có thể hoạch định việc kế tiếp. Tôi cũng đang rất bận rộn viết phúc trình, soạn giấy tờ để trình lên cho chuyến bay năm ngoái. Rất bận, vì tôi đang phải một mình làm hết mấy việc này.

Còn việc nghỉ hưu của một phi hành gia không dựa trên tuổi tác, mà chỉ khi nào người đó cảm thấy mệt mỏi. Và cũng còn tùy thuộc vào số lần đã bay, tùy vào nhu cầu của chương trình, và chính sách của Tổng Thống cũng như Quốc Hội.

Viễn Đông: Xin cám ơn phi hành gia TS. Tracy Caldwell Dyson đã dành cho Nhật Báo Viễn Đông buổi phỏng vấn này.
source
Vien Dong Daily

Tuesday, 22 February 2011

Ngày Lễ Tổng Thống với hoạt cảnh trại lính


Ngày Lễ Tổng Thống với hoạt cảnh trại lính
Cập nhật lúc 7:48:58 PM - 19/02/2011
Quốc Hương/Viễn Đông

letongthongtrailinhIMG_3452.jpg

Từ trái qua, Đại Tá Ed Mann, Đại Tá Scott Harringtor, Đại Úy Bob Carr, Đại Úy Sam John – ảnh: Quốc Hương/Viễn Đông


BUENA PARK - Hàng trăm tướng lãnh lính tráng đã cùng tham gia vào một hoạt cảnh cắm trại tái hiện trại lính thời Nội Chiến ở Hoa Kỳ nhân dịp Ngày Lễ Tổng Thống (President’s Day) tại Knott’s Park Pavilion trong công viên Knott’s Berry Farm, đặc biệt có cả người đóng vai cố tổng thống Abraham Lincoln đọc diễn văn nổi tiếng “Gettysburg Address” ở Independence Hall.
Các hoạt động còn có trình diễn các loại súng pháo, luyện binh, nấu ăn, đàn hát âm nhạc của thế kỷ 19....


letongthongtrailinhIMG_3461.jpg

Phó chủ tịch kiêm tổng quản trị Marty Keithley (bên phải) và nhân viên phụ trách quan hệ công chúng Jennifer Blazey của Knott’s Berry Farm – ảnh: Quốc Hương/Viễn Đông

Trả lời phỏng vấn phóng viên Viễn Đông, ông Michael Varndell từ San Diego ôm súng cho biết ông tham gia diễn lại hoạt cảnh Nội Chiến Hoa Kỳ từ những năm 1962-1963. Có các thủ lãnh chỉ huy như Ed Mann, Scott Harringtor, Bob Carr, Sam John giới thiệu về những ngôi sao trên cổ áo các vị tướng lãnh. Có những phụ nữ như Lynn Johsz, Marianne Keoenig từ tổ chức The Women’s Central Association Of Relief ở New York. Ông Ed Mann điều hợp chương trình, cho biết họ đã từng tổ chức như vậy các năm qua, năm nay dù trời mưa cũng che lều cắm trại suốt từ Thứ Bảy cho đến Chủ Nhật. Sinh hoạt này hoàn toàn miễn phí cho công chúng cùng vui chơi học hỏi, tham gia cùng các diễn viên. Sáng Thứ Bảy có nhiều em học sinh, hướng đạo sinh đến tham dự như em Sarah Huh, học sinh trường Carmeninta Middle School ở Cerritos đi cùng nhóm bạn, hay các em bên hướng đạo…
Cũng trả lời phỏng vấn của phóng viên Viễn Đông, ông Marty Keithley, phó chủ tịch kiêm tổng quản trị Knott’s Berry Farm, cho biết ông đã làm việc ở đây 35 năm từ lúc còn là sinh viên đại học, giới thiệu về công viên Knott’s Berry Farm với khu trò chơi bao gồm cả công viên nước lẫn khách sạn du lịch. Knott’s Berry Farm từ đầu mùa xuân đã có những chương trình chủ đề đặc biệt, nhất là vào các dịp lễ như Halloween, hay vào tháng Sáu sắp tới sẽ có trò chơi mới cao 300 bộ trên không…

letongthongtrailinhIMG_3454.jpg

Ông Michael Varndell, một người từng tham gia diễn lại thời Nội Chiến từ đầu thập niên 1960 – ảnh: Quốc Hương/Viễn Đông

letongthongtrailinhIMG_3456.jpg

Các phụ nữ thuộc tổ chức Women’s Central Association Of Relief (New York) – ảnh: Quốc Hương/Viễn Đông

letongthongtrailinhIMG_3485.jpg

Hướng đạo sinh đang học cách bắn súng pháo – ảnh: Quốc Hương/Viễn Đông
source
Viễn Đông Daily

Friday, 28 January 2011

Đại hội các Giám mục châu Á lần thứ 10 sẽ diễn ra tại Việt Nam


VIỆT NAM -
Bài đăng : Thứ sáu 28 Tháng Giêng 2011 - Sửa đổi lần cuối Thứ sáu 28 Tháng Giêng 2011
Đại hội các Giám mục châu Á lần thứ 10 sẽ diễn ra tại Việt Nam
Lần đầu tiên, Liên Hội đồng Giám mục Châu Á họp đại hội ở Việt Nam (Reuters)
Lần đầu tiên, Liên Hội đồng Giám mục Châu Á họp đại hội ở Việt Nam (Reuters)
Trọng Nghĩa

Sau Đại hội lần thứ 9 tại Philippines vào năm 2009, Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) sẽ tổ chức đại hội tiếp theo vào cuối năm 2012 tại Việt Nam. Chính Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã loan báo tin trên ngày 26/01/2011 vừa qua. Đây là lần đầu tiên Liên Hội đồng Giám mục Châu Á họp đại hội ở Việt Nam.

Phát biểu với hãng tin Công giáo Ucanews, Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn cho biết là Ủy Ban Trung ương của FABC đã quyết định như trên nhân hội nghị tại Bangkok cách nay hai tuần lễ. Đức Hổng Y và Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm, Phó Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam đã tham dự hội nghị đó.

Đại hội toàn thể của Liên Hội đồng Giám mục Châu Á được tổ chức bốn năm một lần, lần mới đây là tại Manila năm 2009. Theo Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Đại hội lần thứ 10 sẽ diễn ra vào tuần lễ thứ ba của tháng 10 năm 2012, tại Trung tâm Mục vụ của Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh. Kể từ khi được thành lập vào năm 1970, đây là lần đầu tiên mà Liên Hội đồng Giám mục Châu Á họp đại hội ở Việt Nam.

Giáo Hội Công giáo Việt Nam hy vọng nhận được danh sách những người tham gia một hoặc hai tháng trước khi khai mạc đại hội để có thời gian làm thủ tục phía chính quyền. Chỉ sau khi được chính phủ Việt Nam bật đèn xanh, thì những người tham gia mới có thể xin visa nhập cảnh. Dẫu sao thì Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn hy vọng rằng sự kiện đó sẽ thúc đẩy tình đoàn kết, tình huynh đệ và hiệp thông giữa các Giáo Hội tại châu Á.

Theo hãng tin Ucanews, FABC là một hiệp hội tự nguyện của các Hội đồng Giám mục nhằm thúc đẩy tình đoàn kết giữa các thành viên của mình, vì lợi ích của Giáo Hội và xã hội ở châu Á. Đại hội toàn thể là cơ quan tối cao của FABC, tất cả các ủy ban và cán bộ có trách nhiệm với nó.

Liên Hội đồng Giám mục Châu Á hiện bao gồm 15 thành viên là Hội đồng Giám mục các nước Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Kazakhstan, Hàn Quốc, Lào-Campuchia, Malaysia-Singapore-Brunei, Myanmar, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam. FABC còn có 10 thành viên liên kết là Hồng Kông, Ma Cao, Mông Cổ, Nepal, Kyrgyzstan, Siberia (Nga), Tajikistan, Turkmenistan, Uzbekistan và Đông Timor.

source

RFI Vietnamese

Thursday, 20 January 2011

Lòng nhân ái của một cô gái Việt trên đất Phi Châu


Lòng nhân ái của một cô gái Việt trên đất Phi Châu
Cập nhật lúc 7:27:45 PM - 17/01/2011
Thanh Phong/Viễn Đông

co-gai-Viet-tren-dat-Phi-3.jpg

Staci Phạm Ngọc Thu – ảnh: Thanh Phong/Viễn Đông.


SANTA ANA - Staci Phạm Ngọc Thu, một cô gái Việt Nam hiện cư ngụ tại thành phố Santa Ana (gần nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm trên đường McFadden), năm nay 27 tuổi, tốt nghiệp Đại Học Cal State Fullerton năm 2006, hiện còn độc thân. Staci Phạm đã tình nguyện qua Zambia, một nước nghèo tại Phi Châu, để giúp những người dân xứ này có cuộc sống tốt hơn. Phạm Ngọc Thu đã phải ăn sâu róm và chuột cùng với gia đình người Zambia mà cô cư ngụ trong nhà họ. Phạm Ngọc Thu là người Việt Nam duy nhất trong phái đoàn 51 người khắp Hoa Kỳ, tình nguyện qua giúp Zambia theo chương trình “Peace Corps” của chính phủ Mỹ. Chiều ngày 14-1-2011, chúng tôi đến gia đình bố mẹ cô để nghe cô Staci Phạm kể về cuộc hành trình từ quận Cam sang Zambia, Phi Châu, với tấm lòng nhân ái của một người con gái Việt Nam.
Trước khi nghe cô Staci Phạm kể chuyện đi Zambia, phóng viên Nhật báo Viễn Đông hỏi: “Động lực nào thúc đẩy cháu đi sang Phi Châu giúp người dân Zambia, và trước khi đi, cháu có tìm hiểu về cuộc sống bên đó như thế nào không?”.

co-gai-Viet-tren-dat-Phi-4.jpg

Gia đình Staci Phạm, từ phải, ông Joseph Phạm Thiện (bố), Staci Phạm, bà Thiện bế cháu ngoại và Phạm Hạnh, chị ruột Staci Phạm – Staci Phạm còn một em gái Phạm Mỹ Trâm vắng mặt lúc chụp ảnh – ảnh: Thanh Phong/Viễn Đông.

Staci Phạm mỉm cười trả lời: “Khi còn học trung học, cháu vẫn thường xuyên đi làm việc thiện nguyện, cháu mang đồ ăn cho người nghèo, đa số là người Mexico. Cháu đến những cô nhi viện, giúp các em mồ côi ăn, đưa chúng đi chơi, kể chuyện cho chúng nghe, cháu thấy những người nghèo rất tội nghiệp và chỉ mong sao có điều kiện giúp họ. Sau khi tốt nghiệp đại học tại Cal State Fullerton tháng 12-2006, cháu xin phép bố mẹ được đi xa để làm việc thiện nguyện. Bố mẹ cháu không những không ngăn cản, còn khuyến khích cháu. Lúc đó cháu được bạn bè giới thiệu website: www.Peacecorps.gov; cháu vào xem và biết đang có chương trình ghi danh đi Zambia, Phi Châu. Cháu liền vào Internet tìm hiểu về nước Zambia, và cháu hết sức xúc động, khi nhìn thấy hình ảnh đói khổ của người dân Zambia mà cháu chưa bao giờ nhìn thấy trong đời. Cháu là người Công giáo, cháu nghĩ Chúa ban cho mình được sống ở đất nước Hoa Kỳ quá đầy đủ về thực phẩm, quần áo như thế này; trong khi ở những nơi như Zambia, họ quá thiếu thốn mọi thứ, họ còn lạc hậu quá, thì tại sao mình không sang giúp họ. Nghĩ vậy, cháu ghi danh và được gọi đi cùng với 51 người khắp Hoa Kỳ; nhưng chỉ có cháu là người Việt Nam duy nhất mà lại là con gái. Sau một thời gian ở bên đó, có 10 người chịu không nổi đã bỏ cuộc xin về”.
Trước khi đáp máy bay đi Zambia, 51 người tình nguyện được lệnh tập trung về Philadelphia để nghe phổ biến về các thủ tục cũng như sinh hoạt và công tác bên Zambia. Sau đó mọi người rời Hoa Kỳ vào ngày 19-2-2008, máy bay bay khoảng 20 hay 30 tiếng mới tới Zambia. Xuống phi trường có nhân viên của Peace Corps ra đón, rồi phân tán đi nhiều vùng khác nhau, mỗi vùng một số người.

co-gai-Viet-tren-dat-Phi-2.jpg

Hai người Zambia sắp làm thịt chuột – ảnh: Staci Phạm cung cấp.


* “Nhập gia tùy tục”

Staci Phạm được đưa đến gia đình một người Zambia, mà cô tạm gọi là “bố mẹ nuôi”. Ở đây, cô đi học tiếng Zambia, mỗi ngày học 4 tiếng, sau đó học tiếp 4 tiếng về bệnh lao, bệnh HIV và một số bệnh khác để biết cách phổ biến, dạy lại cho người Zambia sống ở vùng hẻo lánh.
Gia đình bố mẹ nuôi giúp giặt quần áo và nấu ăn cho cô, nhưng Staci Phạm nói, thức ăn chính của người dân Zambia là cháo bắp, họ ăn hàng ngày như người Việt ăn cơm mà không ngán. Ở đây có hai mùa, họ ăn hai loại khác nhau, là sâu róm (tháng 10, 11) và nấm để có protein. Staci Phạm cho chúng tôi xem hình một con sâu róm chụp trước khi cô ăn. Cô nói: “Mới đầu cháu nhìn con sâu này cũng sợ lắm, lúc đầu nó còn nhỏ, nó ăn mấy lá cây mới ra và nó lớn mau như thổi, to bằng ngón tay. Ở đây không có bán bất cứ thứ thịt gì, nên người dân Zambia bắt sâu về, họ hơ trên lửa cho cháy hết lông, sau đó chiên dòn và ăn. Cháu đã phải ăn khoảng 10 con sâu như thế, vì nếu không ăn, trong người không có protein là dễ đổ bệnh. Ăn rồi thấy cũng ‘được’! Sau đó có màn ăn chuột, cũng để có protein. Họ bắt chuột về, đập chết sau đó nướng trên lửa cho cháy hết lông, rồi chiên lên xé ra ăn ngon lành, cháu cũng ăn”. Staci nói: “Cái gì họ cũng chiên”.
Người dân Zambia nhìn Staci Phạm đều nghĩ cô là người Hoa hay người châu Á, hoàn toàn không biết, không nghe nói đến hai chữ Việt Nam bao giờ. Cô phải mang theo tấm bản đồ, mở ra và chỉ nước Việt Nam cho họ thấy rằng, cô là người Việt, để họ biết không chỉ có người Hoa, mà còn có người Việt Nam, cũng đầy lòng nhân ái. Staci Phạm vừa cười vừa kể: “Bên Zambia họ cứ nghĩ ở Mỹ là thiên đàng, sung sướng lắm, không có ai bị bệnh, nhất là bệnh HIV, không có ai hút cần sa, ma túy. Họ đâu biết rằng, người dân Mỹ cũng có quá nhiều cái lo, lo trả bill, lo tiền nhà và đủ thứ”. Cô nói cho họ biết và họ có vẻ ngạc nhiên, không tin.

Stacy0626.jpg

Staci Phạm công tác tại Zambia – ảnh: Staci Phạm cung cấp.


* Sống với người dân
Sau khi học 9 tuần, cơ quan Peace Corps đến trắc nghiệm, nếu không đậu thì phải học tiếp. Staci Phạm nói: “Cháu may mắn đậu”. Sau đó họ chuyển cô về miền bắc Zambia. Cơ quan Peace Corps cho cô ở một cái nhà riêng một mình, có cái nhà vệ sinh làm phía sau gần giống như ở đồng quê Việt Nam, nhà nhỏ và mưa là dột, phòng tắm thì sơ sài và không có vòi sen như ở Mỹ, nước phải đi lấy từ xa, nên cô gọi một em bé Zambia 14 tuổi, không được đến trường vì gia đình quá nghèo đến và bảo: “Nếu em giúp lấy nước về cho tôi, giúp tôi vài việc vặt, tôi cho tiền em đi học”. Nghe vậy em đó mừng lắm. Mỗi ba tháng, Staci Phạm cho em 50 Mỹ kim. Cô nói với chúng tôi: “50 Mỹ kim bên đó lớn lắm, vì cháu mua cà chua, tính ra chỉ có 2 cent một pound, nên 50 Mỹ kim giúp em đó không những được đi học mà còn dư tiền mua quần áo, sách vở nữa”.
Chúng tôi hỏi: “Cô lấy tiền túi ra cho hay sao?”. Staci Phạm trả lời: “Đi Phi Châu, mỗi tháng chính phủ Mỹ tài trợ 200 Mỹ kim một người. Ở đây không có cái gì để mua, muốn mua gạo và thực phẩm phải đi mất 3 tiếng lái xe, nên cháu chỉ ăn rau với bắp giống người dân Zambia”. Cô cười và nói tiếp: “Và lâu lâu ăn sâu róm, ăn chuột nữa nên dư tiền. Cháu lấy tiền đó trả cho em 14 tuổi giúp mình, và thỉnh thoảng mua kẹo cho các em nhỏ, chúng nó thích lắm”.
Công việc của Staci Phạm là hàng ngày dạy cho khoảng 20 người dân Zambia, cả người lớn lẫn trẻ em về bệnh AIDS, bệnh lao và hướng dẫn họ giữ gìn vệ sinh. Tổng số người được Staci Phạm dạy là 123 người. Cô nói, ở bên đó họ mắc bệnh AIDS và chết nhiều lắm, hầu như không tuần nào cô không đi dự đám ma, vì họ không biết cách ngừa bệnh.
Thiếu nữ Zambia 14, 15 tuổi đã lấy chồng, sinh con, nên khi họ hỏi Staci bao nhiêu tuổi, cô nói số tuổi ra, và họ ngạc nhiên hỏi, tại sao chưa lấy chồng? Họ muốn cô lấy chồng người Zambia, họ sẽ lo liệu hết cho, nhưng Staci Phạm tìm cách từ chối, vì còn phải đi giúp nhiều nơi khác.
Khi chúng tôi hỏi: “Suốt thời gian ở Zambia, điều gì làm cháu buồn nhất?”. Cô trả lời: “Cháu thấy người ta chết nhiều nhất, mỗi lần có người chết, đàn bà họ gào lên thật lớn, khóc la thê thảm. Khi có người chết, những người đàn ông trong làng ra dùng tay không đào cái lỗ, rồi bỏ hòm người chết xuống lấp đất lại. Hòm cũng thô sơ lắm, cháu chứng kiến quá nhiều người chết, nên cháu buồn!”.
Chúng tôi hỏi: “Thế chuyện gì làm cháu vui nhất?”. Staci Phạm lại mỉm cười đáp: “Cháu thấy cả người lớn lẫn trẻ con đều vô tư, tuy rất nghèo khổ mà chẳng thấy họ biểu lộ sự buồn khổ hay lo lắng gì cả; nhất là các em nhỏ, lúc nào cũng vô tư. Người lớn thì ai cũng nghĩ Mỹ là thiên đàng trên địa cầu, ở đó chẳng phải lo bệnh tật gì, được ăn thịt, được ở nhà đẹp, tha hồ tắm có vòi nước xịt, không cần phải đi lấy nước từ xa, nên họ cứ mong cháu lấy họ để họ được đi Mỹ. Cháu cứ nghĩ tới mấy cái đó là thấy thật là vui”.
Thấm thoắt, thời gian công tác hai năm ở đất nước Zambia nghèo khổ cũng chấm dứt. Ngày 13-4-2010, Staci Phạm trở về Hoa Kỳ, trước sự lưu luyến chia tay của rất đông người dân Zambia. Trước ngày chia tay, nhiều người Zambia vẫn muốn cô ở lại, lấy chồng và lập nghiệp tại xứ sở này, nhưng…

co-gai-Viet-tren-dat-Phi-Ch.jpg

Con sâu róm trước khi Staci Phạm ăn thịt – ảnh: Staci Phạm cung cấp.

* Đường còn dài...
Staci Phạm tâm sự với chúng tôi: “Cháu thấy cháu còn trẻ, cháu chưa nghĩ tới việc lập gia đình. Cháu sẽ đi tiếp, chắc chắn như vậy, nhưng lần này không phải Phi Châu, mà có thể đi Campuchia, Thái Lan, hay cũng có thể Việt Nam; vì càng đi, cháu càng thấy mình được Thiên Chúa ban cho quá sung sướng, trong khi người ta chịu cảnh quá nghèo khổ và lạc hậu, thiếu thốn đủ thứ, nhất là thực phẩm và thuốc men. Cháu thấy tội nghiệp họ quá, nên cháu xin phép bố mẹ đi tiếp. Cháu không sợ cực khổ, ăn gì cũng được, miễn là giúp người nghèo khổ là cháu vui”. Cô cho biết, mỗi năm cơ quan Peace Corps tổ chức hai đợt, “vì vậy bạn nào muốn đi như cháu, xin vào trang nhà www.Peacecorps.gov để biết mà ghi danh”.
Phóng viên nhật báo Viễn Đông chúng tôi chia tay với Staci Phạm và gia đình cô, chúng tôi nghĩ rất nhiều người Việt Nam mình có lòng từ tâm, đi làm việc thiện nguyện khắp nơi, giúp tiền bạc, thực phẩm cho người vô gia cư; nhưng có lẽ ít ai làm được như Staci Phạm Ngọc Thu, một người con gái Việt, đang sống hạnh phúc bên bố mẹ, chị, em, lại tình nguyện đi sang Phi Châu, sống cuộc sống cực khổ, thiếu thốn, ăn sâu róm, ăn thịt chuột cả mấy năm trời để giúp những người nghèo khổ. Staci Phạm đã làm cho người dân Zambia, Phi Châu, biết đến dân tộc Việt Nam, và cộng đồng Việt Nam hải ngoại, tuy nhỏ bé nhưng không thiếu lòng từ tâm đối với những người bất hạnh.

© ViễnĐôngDailynews
source
Vien Dong Dailly

Saturday, 15 January 2011

Tổng Giám mục Leopoldo Girelli - đại diện không lưu trú của Toà thánh La Mã ở Việt Nam


Cập nhật: 03:04 GMT - thứ sáu, 14 tháng 1, 2011

Vatican bổ nhiệm đại diện ở Việt Nam

Leopoldo Girelli

Tổng Giám mục Leopoldo Girelli cũng là Khâm sứ ở Indonesia

Đức Giáo hoàng Benedict XVI vừa chính thức chỉ định Tổng Giám mục Leopoldo Girelli làm đại diện cho Toà thánh Vatican tại Việt Nam.

Vị Tổng Giám mục không lưu trú mà sẽ chỉ thường xuyên đến Việt Nam, theo tin của các nguồn Công giáo.

Ngài cũng là Khâm sứ của Giáo hoàng tại Singapore và đại diện cho Toà Thánh trong quan hệ với Malaysia và cả Brunei, hai nước không có quan hệ ngoại giao với Vatican.

Các bản tin cho hay trong quyết định công bố hôm 13/1, Vatican nói TGM Girelli cũng đã làm Khâm sứ của Toà thánh ở Indonesia.

Chức danh của Ngài trong quan hệ với Việt Nam là "đại diện không lưu trú của Toà thánh La Mã" và hiển nhiên là thấp hơn chức danh Khâm sứ, tức Đại sứ của Vatican ở Singapore.

Đây không phải là lần đầu tiên Vatican hay một quốc gia chỉ định một vị đại sứ kiêm nhiệm vai trò đại diện của mình trong quan hệ với một loạt quốc gia.

Tuy nhiên, với Việt Nam, việc bổ nhiệm này dù sao cũng được một số báo Công giáo trên thế giới coi là bước tiến triển trong quan hệ hai bên mà họ cho là bị gián đoạn từ 1975.

Còn riêng trong quan hệ với Bắc Việt Nam, vị khâm sứ cuối cùng của Toà thánh phải rời Hà Nội sau khi những người (...) làm chủ miền Bắc trong thập niên 1950.

Cải thiện quan hệ

Việc tranh chấp toà Khâm sứ, địa chỉ cuối cùng của đại sứ Toà thánh tại Hà Nội, giữa khối Công giáo và chính quyền thành phố là một trong những lý do khiến quan hệ hai bên xấu đi từ cuối 2007.

Nhưng gần đây, với việc Tổng Giám mục Hà Nội Joseph Ngô Quang Kiệt phải ra đi, hai bên đã dần bồi đắp lại quan hệ.

Đại lễ Năm Thánh của Giáo hội Công giáo Việt Nam vừa kết thúc tuần đầu tháng 1/2011 tại La Vang, với sự tham gia của Đức Hồng y Ivan Dias, đặc sứ của Đức Giáo hoàng.

Tuy vậy, giới quan sát tin rằng cũng phải mất thời gian hai bên mới tiến tới bình thường hóa hoàn toàn quan hệ ngoại giao.

Dù có chừng 7-8 triệu giáo dân, đông thứ nhì châu Á, chỉ sau Philippines, Việt Nam vẫn như Trung Quốc, chưa lập quan hệ ngoại giao với Vatican.

Sinh năm 1953, vị Tổng Giám mục người Ý gia nhập ngành ngoại giao của Vatican năm 1987.

Trước khi nhận chức vụ tại Indonesia, Ngài đã phục vụ ở Cameroon, New Zealand và Hoa Kỳ, và cũng có thời gian làm việc ngay tại Toà thánh ở Roma.

source

BBC Vietnamese

Saturday, 8 January 2011

Đại lễ La Vang


Cập nhật: 14:59 GMT - thứ năm, 6 tháng 1, 2011

Đại lễ La Vang

source

BBC Vietnamese



Monday, 13 December 2010

Khi người con gái, tự tình với Quê Hương


Khi người con gái, tự tình với Quê Hương
Cập nhật lúc 11:07:09 PM - 11/12/2010

ht, nguyễn

QA-7.jpg

Không sáng lung linh như ngọc, bởi cái dung dị, mộc mạc của một cô gái từ ánh mắt đến nụ cười.


Nhưng lại trong veo như thể là suối nguồn, một thứ tinh khiết hiếm hoi mà không phải cô gái đôi mươi nào cũng có được trong cái thế kỷ 21 này. Đó chính là Phạm Quỳnh Anh, người con gái đã thổi hồn đất nước Việt Nam vào từng con tim, qua bài hát “Bonjour Việt Nam”.

Sinh ra và lớn lên thuần thục trong một gia đình, mà bố là người Hà Nội, du học tại Bỉ 1971, và mẹ là người miền Nam; họ gặp nhau vào năm 1982. Sau đó 5 năm thì Quỳnh Anh chào đời vào một ngày của mùa Xuân, ngày16-1-1987. Và một em gái tên Lisa năm 1992 nữa. Ba mẹ luôn luôn dẫn dắt cô con gái yêu vào cội nguồn, bằng những buổi biểu diễn đóng góp dân ca cho cộng đồng Việt Nam tại đây, với một nhóm có cái tên là “Hy Vọng”. Và xem ra đây thì cũng chính là cái tên của định mệnh, dành cho một cô gái thuần chủng Việt Nam có ánh mắt với niềm tin Hy Vọng tràn trề sức sống của tuổi đôi mươi mỗi khi biểu diễn.

Thành phố Liege, nơi mà con sông Meuse đẹp nhất Châu Âu, cũng là nơi mà Quỳnh Anh được sinh ra và lớn lên. Lại một lần nữa, phải chăng là những dòng nước trong suốt đã cuồn cuộn vào tận cùng âm sắc, từ một cô gái có giọng hát ru, đến từng con tim người thưởng ngoạn.

Đài Truyền Hình Bỉ RTBF với cuộc thi hát Vì Vinh Quang vào tháng 9-2000, giải nhất, giải Vinh Quang đã thuộc về Quỳnh Anh, và bước đầu khởi nghiệp cho sự nghiệp ca hát của Quỳnh Anh cũng bắt đầu từ đây.

Năm 2002, bản hợp đồng đầu tiên của sự nghiệp được ký kết với Universal.

QA-4.jpg

Năm 2005 là năm để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong bước đường đi vào sự nghiệp ca hát của Quỳnh Anh. Vào tháng 3 năm đó, nhạc sĩ Marc Lavoine viết bài “Bonjour Việt Nam” dành riêng cho một Quỳnh Anh. Tháng 4 thì cô ca sĩ lại cùng sánh vai với chàng nhạc sĩ trong bài hát mang tên “J’espère - Tôi Hy Vọng”. Đẹp làm sao ánh mắt hồn nhiên, không chút nghi ngại của Quỳnh Anh khi biểu diễn “J’espère”, đẹp làm sao những tràng pháo tay ròn rã và tiếng hát hòa theo của mọi người. Ngay từ phút đầu tiên xuất hiện, cả phòng mọi người đều đứng bật dậy như thể một trông chờ, một khát khao! Đẹp hơn tất cả là cái nắm chặt tay của chàng thanh niên có tuổi đời xấp xỉ gấp đôi tuổi của nàng, Marc Lavoine, như thể là một nâng đỡ, một dìu dắt, một hứa hẹn giữa hai người khi đi vào thế giới của âm nhạc. Riêng tôi muốn sống! Muốn được sống nhiều hơn khi nghe J’espère.

Cũng nên nói thêm về cái khoảng khắc định mệnh họ gặp nhau, để có một bài hát tại thành phố Bruxelles, và Marc Lavoine đã nói về Quỳnh Anh: “Ca khúc này đặc biệt. Tôi muốn hát chung với một ca sĩ nào có khuôn mặt diễn tả niềm hi vọng. Và tôi đã tìm thấy Quỳnh Anh ở Bruxelles. Tôi viết bài Bonjour Vietnam cho Quỳnh Anh”. Có phải chăng định mệnh ca hát của Quỳnh Anh bắt đầu từ hai chữ Hy Vọng. (Hy Vọng, đầu tiên từ tên của nhóm hát. Hy Vọng thứ hai là tên của bài hát. Hy Vọng thứ ba, là sự tìm kiếm của nhạc sĩ Marc Lavoine về một cô gái có khuôn mặt diễn tả niềm Hy Vọng).

Raconte moi ce nom étrange et difficile à prononcer
Que je porte depuis que je suis née.
Raconte moi le vieil empire et le trait de mes yeux bridés,
Qui disent mieux que moi ce que tu n’oses dire.
Je ne sais de toi que des images de la guerre,
Un film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère ...
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à ton âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam.
Raconte moi ma couleur, mes cheveux et mes petits pieds,
Qui me portent depuis que je suis née.
Raconte moi ta maison, ta rue, racontes moi cet inconnu,
Les marchés flottants et les sampans de bois.
Je ne connais de mon pays que des photos de la guerre,
Un film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère ...
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam.
Les temples et les Bouddhas de pierre pour mes pères,
Les femmes courbées dans les rizières pour mes mères,
Dans la prière, dans la lumière, revoir mes frères,
Toucher mon âme, mes racines, ma terre...
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam (2 fois).

Bonjour Vietnam – Marc Lavoine

Năm 2008, Bonjour Việt Nam được chuyển dịch sang Anh Ngữ: Hello Việt Nam - đã được Quỳnh Anh lần đầu tiên ra mắt cộng đồng người Việt Nam ở Little Saigon, Orange County, miền Nam California, Hoa Kỳ, trong chương trình Đại Nhạc Hội “Tình Ca Việt Nam”, do Trung Tâm Thúy Nga tổ chức, vào Tháng 5-2008.

Tell me all about this name, that is difficult to say.
It was given me the day I was born.
Want to know about the stories of the empire of old.
My eyes say more of me than what you dare to say.
All I know of you is all the sights of war.
A film by Coppola, the helicopter's roar.
One day I'll touch your soil.
One day I'll finally know your soul.
One day I'll come to you.
To say hello... Vietnam.
Tell me all about my colour, my hair and my little feet
That have carried me every mile of the way.
Want to see your house, your streets. Show me all I do not know.
Wooden sampans, floating markets, light of gold.
All I know of you is the sights of war.
Hello Vietnam lyrics on
A film by Coppola, the helicopter's roar.
One day I'll touch your soil.
One day I'll finally know your soul.
One day I'll come to you.
To say hello... Vietnam.
And Buddha’s made of stone watch over me
My dreams they lead me through the fields of rice
In prayer, in the light…I see my kin
I touch my tree, my roots, my begin
One day I'll touch your soil.
One day I'll finally know my soul.
One day I'll come to you.
To say hello... Vietnam.
One day I’ll walk your soil
One day I’ll finally know my soul
One day I’ll come to you
To say hello…Vietnam
To say hello…Vietnam
To say xin chào… Vietnam

Hello Việt Nam

“… trong lời nguyện cầu, trong ánh sáng, tôi thấy lại những người anh. Tôi về với tiếng lòng, với cội nguồn, với đất mẹ quê cha... Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn tôi. Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam”. Lời của bài hát như xoáy vào từng con tim người Việt tha hương, lại thôi thúc bước chân của thế hệ trẻ, của bất kỳ một ai chưa từng đặt chân đến xứ sở này. Quỳnh Anh đã diễn tả giấc mơ của mình bằng câu nói “Tôi muốn trầm mình trong mùi hương Việt Nam”, và tháng 11-2009 vừa qua, cô đã đến, và để lại những ấn tượng và cảm tình rất Việt Nam trong lòng mỗi người Việt Nam tại quê nhà

QA-5.jpg

Tôi muốn nói cảm ơn nhạc sĩ Marc Lavoine đã làm nên một Bonjour Việt Nam, một Quỳnh Anh và ngay cả một Việt Nam trong tim chúng tôi, và tim mọi người… tim tuổi trẻ Việt Nam.

“I Say Gold” cũng là một bài hát làm nên tên tuổi Quỳnh Anh. Lần này thì Quỳnh Anh có vẻ chững chạc hơn, bởi giờ đây Quỳnh Anh đang là sinh viên năm thứ 2 Khoa Văn chương rồi… Nhưng tôi mong làm sao Quỳnh Anh ơi, hãy giữ mãi chân tình của một cô gái Việt Nam. Tôi mong muốn Quỳnh Anh sẽ là một quả ngọt của cuộc đời này, hơn là một cánh hoa đẹp của cuộc đời. Bởi tôi tin vào nhân cách và đức hạnh của một Quỳnh Anh. Trong sáng và chân tình!
source
Vien Dong Daily