Showing posts with label Viễn Đông. Show all posts
Showing posts with label Viễn Đông. Show all posts

Saturday, 25 October 2014

Mừng! Nina Phạm đã hết bệnh Ebola



Mừng! Nina Phạm đã hết bệnh Ebola
(VienDongDaily.Com - 24/10/2014)
Tổng Thống Barack Obama đang ôm cô y tá Nina Phạm tại Tòa Bạch Ốc vào sáng thứ Sáu. Trước đó, Nina được rời viện y tế quốc gia NIH sau khi các chuyên gia thông báo cô không còn virus Ebola trong máu. Nina Phạm từng bị lây bệnh khi chăm sóc một bệnh nhân Ebola tại Texas. (Hình: Saul Loeb/Getty Images)

Tổng Thống Obama nói chuyện với Nina Phạm trong khi mẹ là bà Diana và em Cathy đang lắng nghe tại Tòa Bạch Ốc hôm thứ Sáu. (Getty Images)

Mừng! Nina Phạm đã hết bệnh Ebola
HOA THỊNH ĐỐN – Nina Phạm, người đầu tiên bị nhiễm Ebola tại Hoa Kỳ, đã vui vẻ bước ra ngoài Viện Y Tế Quốc Gia (NIH) ở tiểu bang Maryland, gần thủ đô Hoa Thịnh Đốn sáng thứ Sáu. Sau đó cô và gia đình được gặp Tổng Thống Barack Obama tại Tòa Bạch Ốc.
Ngày vui mừng của gia đình họ Phạm bắt đầu vào sáng sớm thứ Sáu, khi các bác sĩ tại viện y tế NIH tuyên bố nữ y tá này đã hoàn toàn không còn virus Ebola trong cơ thể. Cô có thể rời bệnh viện, bước ra ngoài và tiếp xúc mọi người như một người khỏe mạnh bình thường.
Nina Phạm, 26 tuổi, là một trong các y tá từng chăm sóc một bệnh nhân bị nhiễm Ebola tại Dallas, Texas. Một tuần trước đây, cô được chuyển lên viện NIH ở Bethesda, Maryland, nơi mà các chuyên gia nói rằng có một đơn vị đặc biệt chuyên về cách ly bệnh nhân với những kỹ thuật tối tân nhất trong ngành y khoa.
“Cô ấy không còn virus trong người,” giám đốc Anthony S. Fauci của Viện Dị Ứng và Bệnh Truyền Nhiễm Quốc Gia tuyên bố trong buổi họp báo bên ngoài viện NIH với sự hiện diện của Nina Pham. “Cô ta cảm thấy khỏe mạnh.”
Ông Fauci mô tả Nina Phạm là “một người rất can đảm và dễ thương” và là “một y tá rất tận tâm.”
Trước khi buổi họp báo bắt đầu, Nina Phạm đứng chung với các bác sĩ, y tá và nhân viên của NIH, cùng với mẹ và em gái của cô. Nina đã tươi cười trong bộ áo vét đen với áo sơ-mi màu xanh ngọc lam. Sau đó Nina Phạm đọc một bài văn viết sẵn và không nhận trả lời các câu hỏi của báo chí.
“Tôi cảm thấy rất may mắn và được hưởng ơn lành khi được đứng tại đây hôm nay,” Nina Phạm nói. “Đầu tiên tôi muốn tạ ơn Thượng Đế, gia đình và các bạn của tôi. Trong suốt thời gian qua, tôi đã đặt hết niềm tin ở Thượng Đế và đội y tế của tôi. Tôi đang trên đường hồi phục, và tôi cũng nghĩ đến nhiều người khác không được may mắn như tôi.”
Sau khi rời viện y tế, Nina Phạm được đưa đến Tòa Bạch Ốc, nơi cô và gia đình được gặp Tổng Thống Obama. Trong buổi họp báo thường ngày, giám đốc Josh Earnest của phòng truyền thông tại Tòa Bạch Ốc nói rằng quyết định gặp Nina Phạm của tổng thống “đầu tiên là một cơ hội để cám ơn sự phục vụ của cô ấy.”
Theo lời của ông Earnest, trước khi gặp vị lãnh đạo quốc gia – và rồi được ôm ông ta, Nina Phạm không phải trải qua thêm một cuộc thử nghiệm nào khác. Ông Earnest cho biết Nina đã được thử nghiệm năm lần để cho thấy cô không còn bị nhiễm siêu vi khuẩn của bệnh Ebola trước khi cô được bước ra ngoài Viện Y Tế Quốc Gia.
Tại buổi họp báo ở Bethesda, Nina Phạm nói rằng cô mong đợi được trở về với cuộc sống bình thường với con chó Bentley ở Texas. Con chó thuộc giống King Charles spaniel của cô đã được kiểm dịch và cách ly sau khi Nina bị chẩn bệnh nhiễm Ebola. Con chó đực này đã không bị lây Ebola. Tuy nhiên, nó cần được cô lập trong 21 ngày, cho đến cuối tháng này, để bảo đảm con chó hoàn toàn không bị nhiễm siêu vi khuẩn.
Nina Phạm là người đầu tiên bị lây Ebola trên đất Mỹ. Cô là một trong các nhân viên thuộc đội chăm sóc Thomas Eric Duncan, một người từ Liberia, Tây Phi bay đến Dallas để thăm bà con. Ông đã bị nhiễm Ebola từ quê hương và mang đến Texas vào cuối tháng Chín vừa qua.
Giám đốc Fauci nói, “Nina đã làm việc với một người bị bệnh nặng.”
Đầu tháng 10 thì ông Duncan qua đời.
Trong ngày thứ Năm vừa qua, các viên chức thông báo rằng một bác sĩ tại thành phố New York đã trở thành người thứ tư bị nhiễm Ebola tại nước Mỹ. Bác sĩ này đã làm việc với những bệnh nhân Ebola tại Tây Phi và mới trở về New York đầu tuần này. Vào trưa thứ Sáu, các viên chức cho biết sức khỏe của bác sĩ Craig Spencer đang trong tình trạng ổn định.
Đơn Vị Nghiên Cứu Lâm Sàng Đặc Biệt ở viện NIH, nơi mà Nina Phạm đã được chăm sóc, đã hoạt động từ năm 2010. Đây là một trong bốn đơn vị trên toàn quốc chuyên đặc trách về kiểm soát bệnh sinh hóa. Bốn đơn vị này được thành lập sau ngày Hoa Kỳ bị khủng bố 11 tháng 9, 2001, nhằm đối với trường hợp quân khủng bố tấn công nước Mỹ bằng vũ khí hóa học.
Đầu tuần này, cô Amber Vinson đã được xem là đang khỏe mạnh và không còn có virus trong máu. Cô Amber Vinson là y tá thứ nhì bị nhiễm Ebola tại bệnh viện Texas Presbyterian, nơi Nina Phạm cũng đã làm việc. Amber được điều trị ở Emory, Georgia.
source
 VienDongDaily

Monday, 23 May 2011

Tay golf thiếu niên thượng thặng



Cập nhật lúc 7:11:06 PM - 19/05/2011
Vincent Thái/Viễn Đông (chụp hình và ghi nhận)

BRITTANY-MAI.jpg


Brittany Alexis Mai, 17 tuổi
Học sinh trung học Poway High School
cư ngụ tại Poway, California, trong Quận San Diego



Vincent:
Tôi biết bạn là một cầu thủ tích cực chơi golf, vậy trước hết bạn có thể nói cho tôi biết bạn bắt đầu chơi môn golf như thế nào?
Brittany: Đúng ra tôi là một người thi đấu trong môn trượt băng nghệ thuật, còn golf chỉ là một môn giải trí mà thôi. Cha tôi trước đây chơi golf rất nghiêm chỉnh, vì vậy ông giới thiệu bộ môn thể thao này cho tôi và em trai tôi, khi tôi lên 9 tuổi, còn em tôi mới 6 tuổi. Ông ghi danh cho chúng tôi tham gia những trận tranh tài môn golf cho vui mà thôi, ở San Diego. Nhưng cả hai anh em tôi đều tiến bộ, đủ điều kiện để thi đấu Callaway Junior World, giải khúc côn cầu thế giới dành cho thiếu niên. Chính vào thời điểm ấy, ở độ tuổi 13, tôi đã phải lựa chọn giữa golf và trượt băng nghệ thuật để làm bộ môn thể thao toàn thời gian. Tôi thích mặc đồ đẹp, yêu chuộng khiêu vũ, thích trình diễn trên sân băng, cùng một lúc. Tôi cũng ưa gặp gỡ những bạn bè mới, không những tại địa phương ở San Diego, mà còn ở trên khắp nước Mỹ, và trên thế giới, để chơi golf. Tôi không muốn bỏ một trong hai môn này, nên tôi giữ cả hai. Huấn luyện viên môn trượt băng nghệ thuật của tôi bực bội khi thấy tôi không dành đủ thì giờ cho những buổi huấn luyện trượt băng, tập vận động mạnh và nhanh, múa ballet, thế là ông ra tối hậu thư cho tôi. Cho tới hôm tôi bị té nặng khi đang tập nhảy lên cao xoay ba vòng, tôi được chẩn đoán bị chấn thương nơi xương sống, ở chỗ khúc xương L5 phía dưới bị gãy vì những vết thương lúc tôi trượt ngã. Tôi được bác sĩ khuyên ngưng hoàn toàn tập môn trượt băng nghệ thuật. Chính lúc ấy tôi bắt đầu tập trung toàn thời gian vào môn golf, khi lên 13 tuổi.

Vincent:
Ôi, chẳng may thật đấy. Nhưng ít nhất chuyện ấy cũng làm cho bạn quyết định sớm hơn! Bạn có thể cho biết một vài thành tựu bạn đã đạt được cho đến nay?
Brittany: (1) Được chọn làm cầu thủ dự bị thứ nhất, trong trận đấu US Women’s Open vào mùa hè năm ngoái. Tôi nhớ những ngày ra sân thi đấu, dù phải đấu với những sinh viên cầu thủ hàng đầu của trường đại học UCLA, để giành được một chỗ dự bị, lúc tôi lên 16 tuổi.
(2) Đại diện cho đội golf Team USA chơi trong giải vô địch thiếu niên Aaron Baddeley Internal Junior Championship ở Quảng Châu, Trung Quốc, vào năm 2010.
(3) Đại diện cho Team USA thi đấu tranh cúp thiếu niên Junior Pacific Cup ở Melbourne, Úc Đại Lợi, trong năm 2011.
(4) Thắng giải San Diego CIF trong năm 2008, khi học lớp 10.
(5) Trở thành cầu thủ trẻ nhất ở San Diego đi dự giải vô địch California State Championship Golf, ở Pebble Beach, California, vào năm 2007.
(6) Một trong 3 người hàng đầu trong giải Callaway Junior World Golf năm 2007.
(7) Dự giải vô địch thiếu nữ US Junior Girls Championship năm 2008
(8) Thắng giải vô địch Sectional Junior PGA Championship 2010.
(9) Được tuyển mộ vào đội golf nữ giới bởi những trường đại học hàng đầu ở Mỹ, như Harvard, Northwestern, Stanford, UCLA, UC Davis, Yale, Gonzaga, Princeton, University of Notre Dame.
(10) Điểm trung bình ở trung học 4,5 GPA.

BRITTANY-MAI-2.jpg

Vincent: Tôi thật là không ngờ. Vậy xin bạn kể thêm về bản thân, bạn làm gì trong cuộc sống hàng tuần?
Brittany: Tôi thích đi chơi với bạn bè, khi thời giờ cho phép, nhưng ưu tiên vẫn dành cho golf và việc học. Thường ngày tôi tới trường vào ban ngày, tan học thì tập chơi golf và/hoặc tập thể trọng hay môn thể dục aerobics, và làm bài tập ở nhà. Thỉnh thoảng đến gặp huấn luyện viên.

Vincent: Nghe ra như thể bạn quý từng giây trong cuộc đời. Chương trình mùa hè của bạn như thế nào?
Brittany: Tôi tham dự những trận tranh tài cấp quốc gia trên khắp nước Mỹ, và dự tất cả những trận đấu USGA và một số trận đấu golf phụ nữ không chuyên nghiệp ở Hoa Kỳ và Canada. Đây là mùa hè cuối cùng chấm dứt sự nghiệp chơi golf thiếu niên của tôi, nên tôi sẽ chơi thêm trong hai trận thiếu niên nữa của giải Rolex Invitational ở Minnesota, và vòng thi đấu cấp quốc gia ở Palm Springs trong tháng 6. Tôi cũng chơi thêm trong những trận đấu golf không chuyên nghiệp dành cho phụ nữ, trước khi dời lên Chicago vào mùa hè để học đại học. Nhưng dĩ nhiên phải có ít nhất một tuần nghỉ hè với gia đình trước khi đi.

Vincent: Chắc là bạn hào hứng lắm. Bạn có những mục tiêu nào trước mắt cho bản thân?
Brittany: Tôi muốn lấy bằng đại học 4 năm từ trường Northwestern, và tham gia Ladies European Tour, cũng như cố gắng kiếm cho được thẻ vào chơi trong LPGA.

Vincent:
Còn về lâu về dài thì bạn có những mục tiêu nào cho chính mình?
Brittany: Mọi sự đều tùy thuộc vào chuyện môn golf đưa tôi đi đến đâu. Tôi muốn trở thành cầu thủ hàng đầu trong LPGA như là sự lựa chọn đầu tiên, hoặc nếu không được thì tiếp tục việc học y khoa.

Vincent: Ngoài việc học và chơi golf, ngoài ra bạn thích làm những gì cho vui?
Brittany: Tôi thích đi mua sắm, du lịch, đi dã ngoại, chơi đàn dương cầm, đọc sách, bỏ giờ ra với gia đình và đi đó đi đây với bạn bè.

Vincent: Triết lý sống của bạn là gì?
Brittany: Nằm ở giữa những mục tiêu là điều được gọi là đời sống, phải sống cho trọn và vui hưởng cuộc đời. Học hỏi từ ngày hôm qua, sống cho ngày hôm nay, và hi vọng cho tương lai.

Vincent: Tuyệt quá, trước đây tôi chưa bao giờ nghe được như thế. Cám ơn Brittany.
source
Vien Dong Daily

Saturday, 14 May 2011

Tìm quê hương thứ hai ở xứ nghèo


Tìm quê hương thứ hai ở xứ nghèo
Cập nhật lúc 7:14:26 PM - 05/05/2011
Vincent Thái/Viễn Đông (thực hiện) – ảnh: Thái Đắc Nhã/Reflection Studio

Christina-Mai.jpg

Christina Mai Nguyễn, 23 tuổi
Cư ngụ tại Quận Cam, California
Tốt nghiệp cử nhân Quản Trị Kinh Doanh tháng 12-2010, đại học Concordia University, Irvine.

Vincent: Được biết bạn mới dọn về Quận Cam khoảng năm rưỡi nay, so với nơi ở trước kia của bạn thì sao?
Christina: Quận Cam rất giống Fairfax, thành phố bản quán của tôi ở Virginia, nằm ở vùng ngoại ô District of Columbia, làm nên khu vực đô thị. Dân số đông đúc và giao thông nhộn nhịp cũng giống như nhau. Tôi có thể nói rằng bầu không khí và nền văn hóa của cả Quận Cam lẫn khu vực Bắc Virginia cũng ở cùng một mức độ như nhau, nhưng khí hậu ấm áp và những bãi biển làm thành yếu tố duy nhất khiến cho Duyên Hải Miền Tây khác biệt với vùng ấy.

Vincent: Xin bạn kể cho quý độc giả biết về một số những vinh dự hoa hậu bạn đạt được trong những năm qua ở Virginia và những thành quả công việc thiện nguyện của bạn.
Christina: Cha mẹ tôi khi nào cũng khuyến khích các anh em và tôi thử nghiệm những điều mới mẻ và lớn lên trở nên những người độc lập. Có mấy người tham gia những sinh hoạt ngoại khóa như thể dục và âm nhạc (riêng tôi thì cũng thử làm cả hai). Nhưng ngay từ lúc còn bé, tôi chú ý đến những người phụ nữ xinh dẹp, tinh tuyền, tài giỏi và có tài ăn nói, xuất hiện trên truyền hình. Tôi đang nói tới những dịp thi hoa hậu, như Miss America và Miss USA. Tôi quyết định dự thi lần đầu tiên lúc tôi 17 tuổi, và sau đó không lâu vào năm lên 19 tuổi. Tôi đoạt tước vị chính thức hoa hậu thiếu niên Miss Virginia Teen 2007 (hệ thống National American Miss). Tôi tiếp tục gặp được những diễm phúc khi đoạt được tước hiệu Miss Virginia và và tước hiệu National American Miss 2008-2009 mà nhiều người tìm kiếm. Từ đó, tôi có nhiều cơ hội và những cánh cửa mở rộng cho tôi từ những học bổng làm người mẫu, những vai trò giao tế trong cộng đồng, những công việc MC, và thuận lợi nhất là trở thành nhà hoạt động từ thiện và làm người mẫu cho Operation Smile Organization (Tổ Chức Chiến Dịch Nụ Cười). Nếu gia đình tôi không ủng hộ việc tôi đi ra ngoài xã hội và thử nghiệm những điều mới mẻ, thì không bao giờ tôi xét lại chuyện đi dự những cuộc thi hoa hậu như thế, và rốt cuộc tôi sẽ không có những cơ hội đến ngay dưới chân mình, biến tôi thành người phụ nữ như hiện nay, với tư cách là một điển hình cho thế hệ những thanh thiếu nữ trẻ hơn, và dẫn tôi tới con đường sự nghiệp tương lai và viễn ảnh cuộc sống.

Vincent: Bạn sắp sửa thi DAT, để làm gì vậy? Bạn có tự tin với kỳ thi này không?
Christina: DAT là tên viết tắt của Dental Admissions Test (Thi Nhập Học Nha Khoa), rất giống với MCAT, GMAT, LSAT. Cuộc thi này đặt nền tảng cho phần còn lại trong nghề nghiệp của bạn, bắt đầu với chuyện những trường nào sẽ nhận bạn vào học, dựa theo số điểm đạt được. DAT bao gồm từ sinh vật học, cho tới hóa học hữu cơ, khả năng tri giác những vật thể và những góc 3 chiều, đọc hiểu, và những phần lý luận toán học. Cuộc thi kéo dài chừng 5 tiếng đồng hồ, cho nên bạn không muốn thi lại nếu không cần thiết. Đến cuối tháng này tôi sẽ dự thi DAT, và tôi tự luyện thi mỗi ngày từ 4 đến 8 tiếng, như tập luyện thân thể để chạy marathon. Tôi hi vọng làm bài được trong cuộc thi DAT, và được nhập học tại một trường lớn, bắt đầu giai đoạn kế tiếp của đời tôi là làm sinh viên nha khoa, tốt nghiệp trở thành một bác sĩ nha khoa, và có thể đi khắp thế giới mà làm việc cho những người không được phục vụ đúng mức tại những nước đang phát triển trên thế giới. Còn trong mùa hè này, tôi sẽ tham gia một chuyến sứ mạng y tế nhân đạo với Hải Quân Hoa Kỳ, được gọi là Pacific Partnership. Tôi sẽ sống trên một chiếc tàu hải quân, đi tới những quốc gia hợp tác ở khu vực Thái Bình Dương (Úc Đại Lợi, Papua New Guinea, Timor l’Este, Nam Dương và Micronesia), cung cấp những dịch vụ y tế và cơ khí dân sự, cùng với những quân nhân hiện dịch, các bác sĩ, những tình nguyện viên dân sự, và tới những nước đối tác khác, như quân đội Nhật Bản, Quân Đội Hoàng Gia Úc Đại Lợi, Hải Quân Tân Tây Lan, và các lực lượng Canada. Tôi đang trông đợi có thêm một mùa hè khác sống xa đất Mỹ, đi tàu trên khắp thế giới cùng với những viên chức y tế chuyên nghiệp có cùng suy nghĩ giống mình, thực hiện một sứ mạng là hỗ trợ và thăng tiến hợp tác khắp vùng Thái Bình Dương.

Vincent: Bạn quả là có mộng lớn! Một ngày bình thường của bạn ra sao?
Christina: Hiện nay ngày nào tôi cũng học, vì tôi chỉ còn chưa tới 4 tuần là đến ngày thi DAT. Tôi đang làm phụ tá nha sĩ và người mẫu quảng cáo. Nhưng gần đây tôi nói với những người chủ của tôi rằng tôi cần nghỉ làm trong mấy tuần tới để dốc toàn thời gian và sức lực vào cuộc thi này. Chuyện ấy giống như tập luyện cho tâm trí mình chạy marathon vậy.

Vincent: Còn trong một tuần lễ?
Christina: Thì cũng như những gì tôi đang làm mỗi ngày. Cứ lu bu và lặp đi lặp lại, nhiều việc phải làm để chuẩn bị thi DAT đến nỗi tôi nghĩ rằng 4 tuần vẫn chưa làm xong được. Thời gian là vấn đề chính yếu. Tôi thường bỏ thì giờ ra để đi tới phòng tập thể dục, nếu tôi cần nghỉ giải lao cho tâm trí thư thái, sau khi phải tiêu hóa những bài vở tôi vừa ngốn vào. Sau đó là trở lại ngay với việc học thi.

Vincent: Rồi bạn có những dự định gì cho tương lai gần, trong vòng 5 năm tới?
Christina: Tôi dự định hoàn tất 4 năm đầu của trường nha khoa, rồi sau đó tiếp tục học ngành chuyên môn trong 2-4 năm liên tiếp.

Vincent: Những mục tiêu dài hạn trong cuộc sống của bạn?
Christina: Tôi hi vọng trở nên một bác sĩ hành nghề thành công tại Hoa Kỳ, và cũng trở thành một người tích cực làm công tác từ thiện vì tôi muốn đặt quê hương thứ hai của mình ở một nơi nào đó trong một nước đang phát triển, chăm sóc y tế miễn phí cho những người không được phục vụ đúng mức tại những quốc gia này.

Vincent: Vào những lúc rỗi rảnh, bạn làm gì?
Christina: Tôi thích bỏ thì giờ ra với gia đình tôi. Cha mẹ tôi là những người bạn tốt nhất của tôi, ở bên cạnh hai vị là một niềm vui. Tôi cũng thích đi tập thể dục, đọc sách và phục vụ cộng đồng của tôi. Chẳng hạn như nấu ăn cho những người vô gia cư hoặc những gia đình bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện nhi đồng, hoặc bỏ thì giờ ra làm một người “chị lớn”, hay là người dìu dắt những thiếu nữ nhỏ tuổi hơn.

Vincent: Bạn lấy điều gì làm triết lý sống?
Christina: Câu Thánh Kinh mà tôi thích nhất và lấy đó làm châm ngôn sống hàng ngày là 1 Thessalonians 5: 14-18: “khích lệ người nhút nhát, giúp đỡ kẻ yếu đuối, kiên nhẫn với mọi người. Luôn luôn vui mừng, liên lỉ cầu nguyện, cảm tạ trong mọi hoàn cảnh, vì đây chính là thánh ý của Thiên Chúa cho con”.

Vincent: Cám ơn Christina.
source
Vien Dong Daily

Tuesday, 22 February 2011

Ngày Lễ Tổng Thống với hoạt cảnh trại lính


Ngày Lễ Tổng Thống với hoạt cảnh trại lính
Cập nhật lúc 7:48:58 PM - 19/02/2011
Quốc Hương/Viễn Đông

letongthongtrailinhIMG_3452.jpg

Từ trái qua, Đại Tá Ed Mann, Đại Tá Scott Harringtor, Đại Úy Bob Carr, Đại Úy Sam John – ảnh: Quốc Hương/Viễn Đông


BUENA PARK - Hàng trăm tướng lãnh lính tráng đã cùng tham gia vào một hoạt cảnh cắm trại tái hiện trại lính thời Nội Chiến ở Hoa Kỳ nhân dịp Ngày Lễ Tổng Thống (President’s Day) tại Knott’s Park Pavilion trong công viên Knott’s Berry Farm, đặc biệt có cả người đóng vai cố tổng thống Abraham Lincoln đọc diễn văn nổi tiếng “Gettysburg Address” ở Independence Hall.
Các hoạt động còn có trình diễn các loại súng pháo, luyện binh, nấu ăn, đàn hát âm nhạc của thế kỷ 19....


letongthongtrailinhIMG_3461.jpg

Phó chủ tịch kiêm tổng quản trị Marty Keithley (bên phải) và nhân viên phụ trách quan hệ công chúng Jennifer Blazey của Knott’s Berry Farm – ảnh: Quốc Hương/Viễn Đông

Trả lời phỏng vấn phóng viên Viễn Đông, ông Michael Varndell từ San Diego ôm súng cho biết ông tham gia diễn lại hoạt cảnh Nội Chiến Hoa Kỳ từ những năm 1962-1963. Có các thủ lãnh chỉ huy như Ed Mann, Scott Harringtor, Bob Carr, Sam John giới thiệu về những ngôi sao trên cổ áo các vị tướng lãnh. Có những phụ nữ như Lynn Johsz, Marianne Keoenig từ tổ chức The Women’s Central Association Of Relief ở New York. Ông Ed Mann điều hợp chương trình, cho biết họ đã từng tổ chức như vậy các năm qua, năm nay dù trời mưa cũng che lều cắm trại suốt từ Thứ Bảy cho đến Chủ Nhật. Sinh hoạt này hoàn toàn miễn phí cho công chúng cùng vui chơi học hỏi, tham gia cùng các diễn viên. Sáng Thứ Bảy có nhiều em học sinh, hướng đạo sinh đến tham dự như em Sarah Huh, học sinh trường Carmeninta Middle School ở Cerritos đi cùng nhóm bạn, hay các em bên hướng đạo…
Cũng trả lời phỏng vấn của phóng viên Viễn Đông, ông Marty Keithley, phó chủ tịch kiêm tổng quản trị Knott’s Berry Farm, cho biết ông đã làm việc ở đây 35 năm từ lúc còn là sinh viên đại học, giới thiệu về công viên Knott’s Berry Farm với khu trò chơi bao gồm cả công viên nước lẫn khách sạn du lịch. Knott’s Berry Farm từ đầu mùa xuân đã có những chương trình chủ đề đặc biệt, nhất là vào các dịp lễ như Halloween, hay vào tháng Sáu sắp tới sẽ có trò chơi mới cao 300 bộ trên không…

letongthongtrailinhIMG_3454.jpg

Ông Michael Varndell, một người từng tham gia diễn lại thời Nội Chiến từ đầu thập niên 1960 – ảnh: Quốc Hương/Viễn Đông

letongthongtrailinhIMG_3456.jpg

Các phụ nữ thuộc tổ chức Women’s Central Association Of Relief (New York) – ảnh: Quốc Hương/Viễn Đông

letongthongtrailinhIMG_3485.jpg

Hướng đạo sinh đang học cách bắn súng pháo – ảnh: Quốc Hương/Viễn Đông
source
Viễn Đông Daily

Thursday, 20 January 2011

Lòng nhân ái của một cô gái Việt trên đất Phi Châu


Lòng nhân ái của một cô gái Việt trên đất Phi Châu
Cập nhật lúc 7:27:45 PM - 17/01/2011
Thanh Phong/Viễn Đông

co-gai-Viet-tren-dat-Phi-3.jpg

Staci Phạm Ngọc Thu – ảnh: Thanh Phong/Viễn Đông.


SANTA ANA - Staci Phạm Ngọc Thu, một cô gái Việt Nam hiện cư ngụ tại thành phố Santa Ana (gần nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm trên đường McFadden), năm nay 27 tuổi, tốt nghiệp Đại Học Cal State Fullerton năm 2006, hiện còn độc thân. Staci Phạm đã tình nguyện qua Zambia, một nước nghèo tại Phi Châu, để giúp những người dân xứ này có cuộc sống tốt hơn. Phạm Ngọc Thu đã phải ăn sâu róm và chuột cùng với gia đình người Zambia mà cô cư ngụ trong nhà họ. Phạm Ngọc Thu là người Việt Nam duy nhất trong phái đoàn 51 người khắp Hoa Kỳ, tình nguyện qua giúp Zambia theo chương trình “Peace Corps” của chính phủ Mỹ. Chiều ngày 14-1-2011, chúng tôi đến gia đình bố mẹ cô để nghe cô Staci Phạm kể về cuộc hành trình từ quận Cam sang Zambia, Phi Châu, với tấm lòng nhân ái của một người con gái Việt Nam.
Trước khi nghe cô Staci Phạm kể chuyện đi Zambia, phóng viên Nhật báo Viễn Đông hỏi: “Động lực nào thúc đẩy cháu đi sang Phi Châu giúp người dân Zambia, và trước khi đi, cháu có tìm hiểu về cuộc sống bên đó như thế nào không?”.

co-gai-Viet-tren-dat-Phi-4.jpg

Gia đình Staci Phạm, từ phải, ông Joseph Phạm Thiện (bố), Staci Phạm, bà Thiện bế cháu ngoại và Phạm Hạnh, chị ruột Staci Phạm – Staci Phạm còn một em gái Phạm Mỹ Trâm vắng mặt lúc chụp ảnh – ảnh: Thanh Phong/Viễn Đông.

Staci Phạm mỉm cười trả lời: “Khi còn học trung học, cháu vẫn thường xuyên đi làm việc thiện nguyện, cháu mang đồ ăn cho người nghèo, đa số là người Mexico. Cháu đến những cô nhi viện, giúp các em mồ côi ăn, đưa chúng đi chơi, kể chuyện cho chúng nghe, cháu thấy những người nghèo rất tội nghiệp và chỉ mong sao có điều kiện giúp họ. Sau khi tốt nghiệp đại học tại Cal State Fullerton tháng 12-2006, cháu xin phép bố mẹ được đi xa để làm việc thiện nguyện. Bố mẹ cháu không những không ngăn cản, còn khuyến khích cháu. Lúc đó cháu được bạn bè giới thiệu website: www.Peacecorps.gov; cháu vào xem và biết đang có chương trình ghi danh đi Zambia, Phi Châu. Cháu liền vào Internet tìm hiểu về nước Zambia, và cháu hết sức xúc động, khi nhìn thấy hình ảnh đói khổ của người dân Zambia mà cháu chưa bao giờ nhìn thấy trong đời. Cháu là người Công giáo, cháu nghĩ Chúa ban cho mình được sống ở đất nước Hoa Kỳ quá đầy đủ về thực phẩm, quần áo như thế này; trong khi ở những nơi như Zambia, họ quá thiếu thốn mọi thứ, họ còn lạc hậu quá, thì tại sao mình không sang giúp họ. Nghĩ vậy, cháu ghi danh và được gọi đi cùng với 51 người khắp Hoa Kỳ; nhưng chỉ có cháu là người Việt Nam duy nhất mà lại là con gái. Sau một thời gian ở bên đó, có 10 người chịu không nổi đã bỏ cuộc xin về”.
Trước khi đáp máy bay đi Zambia, 51 người tình nguyện được lệnh tập trung về Philadelphia để nghe phổ biến về các thủ tục cũng như sinh hoạt và công tác bên Zambia. Sau đó mọi người rời Hoa Kỳ vào ngày 19-2-2008, máy bay bay khoảng 20 hay 30 tiếng mới tới Zambia. Xuống phi trường có nhân viên của Peace Corps ra đón, rồi phân tán đi nhiều vùng khác nhau, mỗi vùng một số người.

co-gai-Viet-tren-dat-Phi-2.jpg

Hai người Zambia sắp làm thịt chuột – ảnh: Staci Phạm cung cấp.


* “Nhập gia tùy tục”

Staci Phạm được đưa đến gia đình một người Zambia, mà cô tạm gọi là “bố mẹ nuôi”. Ở đây, cô đi học tiếng Zambia, mỗi ngày học 4 tiếng, sau đó học tiếp 4 tiếng về bệnh lao, bệnh HIV và một số bệnh khác để biết cách phổ biến, dạy lại cho người Zambia sống ở vùng hẻo lánh.
Gia đình bố mẹ nuôi giúp giặt quần áo và nấu ăn cho cô, nhưng Staci Phạm nói, thức ăn chính của người dân Zambia là cháo bắp, họ ăn hàng ngày như người Việt ăn cơm mà không ngán. Ở đây có hai mùa, họ ăn hai loại khác nhau, là sâu róm (tháng 10, 11) và nấm để có protein. Staci Phạm cho chúng tôi xem hình một con sâu róm chụp trước khi cô ăn. Cô nói: “Mới đầu cháu nhìn con sâu này cũng sợ lắm, lúc đầu nó còn nhỏ, nó ăn mấy lá cây mới ra và nó lớn mau như thổi, to bằng ngón tay. Ở đây không có bán bất cứ thứ thịt gì, nên người dân Zambia bắt sâu về, họ hơ trên lửa cho cháy hết lông, sau đó chiên dòn và ăn. Cháu đã phải ăn khoảng 10 con sâu như thế, vì nếu không ăn, trong người không có protein là dễ đổ bệnh. Ăn rồi thấy cũng ‘được’! Sau đó có màn ăn chuột, cũng để có protein. Họ bắt chuột về, đập chết sau đó nướng trên lửa cho cháy hết lông, rồi chiên lên xé ra ăn ngon lành, cháu cũng ăn”. Staci nói: “Cái gì họ cũng chiên”.
Người dân Zambia nhìn Staci Phạm đều nghĩ cô là người Hoa hay người châu Á, hoàn toàn không biết, không nghe nói đến hai chữ Việt Nam bao giờ. Cô phải mang theo tấm bản đồ, mở ra và chỉ nước Việt Nam cho họ thấy rằng, cô là người Việt, để họ biết không chỉ có người Hoa, mà còn có người Việt Nam, cũng đầy lòng nhân ái. Staci Phạm vừa cười vừa kể: “Bên Zambia họ cứ nghĩ ở Mỹ là thiên đàng, sung sướng lắm, không có ai bị bệnh, nhất là bệnh HIV, không có ai hút cần sa, ma túy. Họ đâu biết rằng, người dân Mỹ cũng có quá nhiều cái lo, lo trả bill, lo tiền nhà và đủ thứ”. Cô nói cho họ biết và họ có vẻ ngạc nhiên, không tin.

Stacy0626.jpg

Staci Phạm công tác tại Zambia – ảnh: Staci Phạm cung cấp.


* Sống với người dân
Sau khi học 9 tuần, cơ quan Peace Corps đến trắc nghiệm, nếu không đậu thì phải học tiếp. Staci Phạm nói: “Cháu may mắn đậu”. Sau đó họ chuyển cô về miền bắc Zambia. Cơ quan Peace Corps cho cô ở một cái nhà riêng một mình, có cái nhà vệ sinh làm phía sau gần giống như ở đồng quê Việt Nam, nhà nhỏ và mưa là dột, phòng tắm thì sơ sài và không có vòi sen như ở Mỹ, nước phải đi lấy từ xa, nên cô gọi một em bé Zambia 14 tuổi, không được đến trường vì gia đình quá nghèo đến và bảo: “Nếu em giúp lấy nước về cho tôi, giúp tôi vài việc vặt, tôi cho tiền em đi học”. Nghe vậy em đó mừng lắm. Mỗi ba tháng, Staci Phạm cho em 50 Mỹ kim. Cô nói với chúng tôi: “50 Mỹ kim bên đó lớn lắm, vì cháu mua cà chua, tính ra chỉ có 2 cent một pound, nên 50 Mỹ kim giúp em đó không những được đi học mà còn dư tiền mua quần áo, sách vở nữa”.
Chúng tôi hỏi: “Cô lấy tiền túi ra cho hay sao?”. Staci Phạm trả lời: “Đi Phi Châu, mỗi tháng chính phủ Mỹ tài trợ 200 Mỹ kim một người. Ở đây không có cái gì để mua, muốn mua gạo và thực phẩm phải đi mất 3 tiếng lái xe, nên cháu chỉ ăn rau với bắp giống người dân Zambia”. Cô cười và nói tiếp: “Và lâu lâu ăn sâu róm, ăn chuột nữa nên dư tiền. Cháu lấy tiền đó trả cho em 14 tuổi giúp mình, và thỉnh thoảng mua kẹo cho các em nhỏ, chúng nó thích lắm”.
Công việc của Staci Phạm là hàng ngày dạy cho khoảng 20 người dân Zambia, cả người lớn lẫn trẻ em về bệnh AIDS, bệnh lao và hướng dẫn họ giữ gìn vệ sinh. Tổng số người được Staci Phạm dạy là 123 người. Cô nói, ở bên đó họ mắc bệnh AIDS và chết nhiều lắm, hầu như không tuần nào cô không đi dự đám ma, vì họ không biết cách ngừa bệnh.
Thiếu nữ Zambia 14, 15 tuổi đã lấy chồng, sinh con, nên khi họ hỏi Staci bao nhiêu tuổi, cô nói số tuổi ra, và họ ngạc nhiên hỏi, tại sao chưa lấy chồng? Họ muốn cô lấy chồng người Zambia, họ sẽ lo liệu hết cho, nhưng Staci Phạm tìm cách từ chối, vì còn phải đi giúp nhiều nơi khác.
Khi chúng tôi hỏi: “Suốt thời gian ở Zambia, điều gì làm cháu buồn nhất?”. Cô trả lời: “Cháu thấy người ta chết nhiều nhất, mỗi lần có người chết, đàn bà họ gào lên thật lớn, khóc la thê thảm. Khi có người chết, những người đàn ông trong làng ra dùng tay không đào cái lỗ, rồi bỏ hòm người chết xuống lấp đất lại. Hòm cũng thô sơ lắm, cháu chứng kiến quá nhiều người chết, nên cháu buồn!”.
Chúng tôi hỏi: “Thế chuyện gì làm cháu vui nhất?”. Staci Phạm lại mỉm cười đáp: “Cháu thấy cả người lớn lẫn trẻ con đều vô tư, tuy rất nghèo khổ mà chẳng thấy họ biểu lộ sự buồn khổ hay lo lắng gì cả; nhất là các em nhỏ, lúc nào cũng vô tư. Người lớn thì ai cũng nghĩ Mỹ là thiên đàng trên địa cầu, ở đó chẳng phải lo bệnh tật gì, được ăn thịt, được ở nhà đẹp, tha hồ tắm có vòi nước xịt, không cần phải đi lấy nước từ xa, nên họ cứ mong cháu lấy họ để họ được đi Mỹ. Cháu cứ nghĩ tới mấy cái đó là thấy thật là vui”.
Thấm thoắt, thời gian công tác hai năm ở đất nước Zambia nghèo khổ cũng chấm dứt. Ngày 13-4-2010, Staci Phạm trở về Hoa Kỳ, trước sự lưu luyến chia tay của rất đông người dân Zambia. Trước ngày chia tay, nhiều người Zambia vẫn muốn cô ở lại, lấy chồng và lập nghiệp tại xứ sở này, nhưng…

co-gai-Viet-tren-dat-Phi-Ch.jpg

Con sâu róm trước khi Staci Phạm ăn thịt – ảnh: Staci Phạm cung cấp.

* Đường còn dài...
Staci Phạm tâm sự với chúng tôi: “Cháu thấy cháu còn trẻ, cháu chưa nghĩ tới việc lập gia đình. Cháu sẽ đi tiếp, chắc chắn như vậy, nhưng lần này không phải Phi Châu, mà có thể đi Campuchia, Thái Lan, hay cũng có thể Việt Nam; vì càng đi, cháu càng thấy mình được Thiên Chúa ban cho quá sung sướng, trong khi người ta chịu cảnh quá nghèo khổ và lạc hậu, thiếu thốn đủ thứ, nhất là thực phẩm và thuốc men. Cháu thấy tội nghiệp họ quá, nên cháu xin phép bố mẹ đi tiếp. Cháu không sợ cực khổ, ăn gì cũng được, miễn là giúp người nghèo khổ là cháu vui”. Cô cho biết, mỗi năm cơ quan Peace Corps tổ chức hai đợt, “vì vậy bạn nào muốn đi như cháu, xin vào trang nhà www.Peacecorps.gov để biết mà ghi danh”.
Phóng viên nhật báo Viễn Đông chúng tôi chia tay với Staci Phạm và gia đình cô, chúng tôi nghĩ rất nhiều người Việt Nam mình có lòng từ tâm, đi làm việc thiện nguyện khắp nơi, giúp tiền bạc, thực phẩm cho người vô gia cư; nhưng có lẽ ít ai làm được như Staci Phạm Ngọc Thu, một người con gái Việt, đang sống hạnh phúc bên bố mẹ, chị, em, lại tình nguyện đi sang Phi Châu, sống cuộc sống cực khổ, thiếu thốn, ăn sâu róm, ăn thịt chuột cả mấy năm trời để giúp những người nghèo khổ. Staci Phạm đã làm cho người dân Zambia, Phi Châu, biết đến dân tộc Việt Nam, và cộng đồng Việt Nam hải ngoại, tuy nhỏ bé nhưng không thiếu lòng từ tâm đối với những người bất hạnh.

© ViễnĐôngDailynews
source
Vien Dong Dailly

Monday, 13 December 2010

Khi người con gái, tự tình với Quê Hương


Khi người con gái, tự tình với Quê Hương
Cập nhật lúc 11:07:09 PM - 11/12/2010

ht, nguyễn

QA-7.jpg

Không sáng lung linh như ngọc, bởi cái dung dị, mộc mạc của một cô gái từ ánh mắt đến nụ cười.


Nhưng lại trong veo như thể là suối nguồn, một thứ tinh khiết hiếm hoi mà không phải cô gái đôi mươi nào cũng có được trong cái thế kỷ 21 này. Đó chính là Phạm Quỳnh Anh, người con gái đã thổi hồn đất nước Việt Nam vào từng con tim, qua bài hát “Bonjour Việt Nam”.

Sinh ra và lớn lên thuần thục trong một gia đình, mà bố là người Hà Nội, du học tại Bỉ 1971, và mẹ là người miền Nam; họ gặp nhau vào năm 1982. Sau đó 5 năm thì Quỳnh Anh chào đời vào một ngày của mùa Xuân, ngày16-1-1987. Và một em gái tên Lisa năm 1992 nữa. Ba mẹ luôn luôn dẫn dắt cô con gái yêu vào cội nguồn, bằng những buổi biểu diễn đóng góp dân ca cho cộng đồng Việt Nam tại đây, với một nhóm có cái tên là “Hy Vọng”. Và xem ra đây thì cũng chính là cái tên của định mệnh, dành cho một cô gái thuần chủng Việt Nam có ánh mắt với niềm tin Hy Vọng tràn trề sức sống của tuổi đôi mươi mỗi khi biểu diễn.

Thành phố Liege, nơi mà con sông Meuse đẹp nhất Châu Âu, cũng là nơi mà Quỳnh Anh được sinh ra và lớn lên. Lại một lần nữa, phải chăng là những dòng nước trong suốt đã cuồn cuộn vào tận cùng âm sắc, từ một cô gái có giọng hát ru, đến từng con tim người thưởng ngoạn.

Đài Truyền Hình Bỉ RTBF với cuộc thi hát Vì Vinh Quang vào tháng 9-2000, giải nhất, giải Vinh Quang đã thuộc về Quỳnh Anh, và bước đầu khởi nghiệp cho sự nghiệp ca hát của Quỳnh Anh cũng bắt đầu từ đây.

Năm 2002, bản hợp đồng đầu tiên của sự nghiệp được ký kết với Universal.

QA-4.jpg

Năm 2005 là năm để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong bước đường đi vào sự nghiệp ca hát của Quỳnh Anh. Vào tháng 3 năm đó, nhạc sĩ Marc Lavoine viết bài “Bonjour Việt Nam” dành riêng cho một Quỳnh Anh. Tháng 4 thì cô ca sĩ lại cùng sánh vai với chàng nhạc sĩ trong bài hát mang tên “J’espère - Tôi Hy Vọng”. Đẹp làm sao ánh mắt hồn nhiên, không chút nghi ngại của Quỳnh Anh khi biểu diễn “J’espère”, đẹp làm sao những tràng pháo tay ròn rã và tiếng hát hòa theo của mọi người. Ngay từ phút đầu tiên xuất hiện, cả phòng mọi người đều đứng bật dậy như thể một trông chờ, một khát khao! Đẹp hơn tất cả là cái nắm chặt tay của chàng thanh niên có tuổi đời xấp xỉ gấp đôi tuổi của nàng, Marc Lavoine, như thể là một nâng đỡ, một dìu dắt, một hứa hẹn giữa hai người khi đi vào thế giới của âm nhạc. Riêng tôi muốn sống! Muốn được sống nhiều hơn khi nghe J’espère.

Cũng nên nói thêm về cái khoảng khắc định mệnh họ gặp nhau, để có một bài hát tại thành phố Bruxelles, và Marc Lavoine đã nói về Quỳnh Anh: “Ca khúc này đặc biệt. Tôi muốn hát chung với một ca sĩ nào có khuôn mặt diễn tả niềm hi vọng. Và tôi đã tìm thấy Quỳnh Anh ở Bruxelles. Tôi viết bài Bonjour Vietnam cho Quỳnh Anh”. Có phải chăng định mệnh ca hát của Quỳnh Anh bắt đầu từ hai chữ Hy Vọng. (Hy Vọng, đầu tiên từ tên của nhóm hát. Hy Vọng thứ hai là tên của bài hát. Hy Vọng thứ ba, là sự tìm kiếm của nhạc sĩ Marc Lavoine về một cô gái có khuôn mặt diễn tả niềm Hy Vọng).

Raconte moi ce nom étrange et difficile à prononcer
Que je porte depuis que je suis née.
Raconte moi le vieil empire et le trait de mes yeux bridés,
Qui disent mieux que moi ce que tu n’oses dire.
Je ne sais de toi que des images de la guerre,
Un film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère ...
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à ton âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam.
Raconte moi ma couleur, mes cheveux et mes petits pieds,
Qui me portent depuis que je suis née.
Raconte moi ta maison, ta rue, racontes moi cet inconnu,
Les marchés flottants et les sampans de bois.
Je ne connais de mon pays que des photos de la guerre,
Un film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère ...
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam.
Les temples et les Bouddhas de pierre pour mes pères,
Les femmes courbées dans les rizières pour mes mères,
Dans la prière, dans la lumière, revoir mes frères,
Toucher mon âme, mes racines, ma terre...
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam (2 fois).

Bonjour Vietnam – Marc Lavoine

Năm 2008, Bonjour Việt Nam được chuyển dịch sang Anh Ngữ: Hello Việt Nam - đã được Quỳnh Anh lần đầu tiên ra mắt cộng đồng người Việt Nam ở Little Saigon, Orange County, miền Nam California, Hoa Kỳ, trong chương trình Đại Nhạc Hội “Tình Ca Việt Nam”, do Trung Tâm Thúy Nga tổ chức, vào Tháng 5-2008.

Tell me all about this name, that is difficult to say.
It was given me the day I was born.
Want to know about the stories of the empire of old.
My eyes say more of me than what you dare to say.
All I know of you is all the sights of war.
A film by Coppola, the helicopter's roar.
One day I'll touch your soil.
One day I'll finally know your soul.
One day I'll come to you.
To say hello... Vietnam.
Tell me all about my colour, my hair and my little feet
That have carried me every mile of the way.
Want to see your house, your streets. Show me all I do not know.
Wooden sampans, floating markets, light of gold.
All I know of you is the sights of war.
Hello Vietnam lyrics on
A film by Coppola, the helicopter's roar.
One day I'll touch your soil.
One day I'll finally know your soul.
One day I'll come to you.
To say hello... Vietnam.
And Buddha’s made of stone watch over me
My dreams they lead me through the fields of rice
In prayer, in the light…I see my kin
I touch my tree, my roots, my begin
One day I'll touch your soil.
One day I'll finally know my soul.
One day I'll come to you.
To say hello... Vietnam.
One day I’ll walk your soil
One day I’ll finally know my soul
One day I’ll come to you
To say hello…Vietnam
To say hello…Vietnam
To say xin chào… Vietnam

Hello Việt Nam

“… trong lời nguyện cầu, trong ánh sáng, tôi thấy lại những người anh. Tôi về với tiếng lòng, với cội nguồn, với đất mẹ quê cha... Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn tôi. Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam”. Lời của bài hát như xoáy vào từng con tim người Việt tha hương, lại thôi thúc bước chân của thế hệ trẻ, của bất kỳ một ai chưa từng đặt chân đến xứ sở này. Quỳnh Anh đã diễn tả giấc mơ của mình bằng câu nói “Tôi muốn trầm mình trong mùi hương Việt Nam”, và tháng 11-2009 vừa qua, cô đã đến, và để lại những ấn tượng và cảm tình rất Việt Nam trong lòng mỗi người Việt Nam tại quê nhà

QA-5.jpg

Tôi muốn nói cảm ơn nhạc sĩ Marc Lavoine đã làm nên một Bonjour Việt Nam, một Quỳnh Anh và ngay cả một Việt Nam trong tim chúng tôi, và tim mọi người… tim tuổi trẻ Việt Nam.

“I Say Gold” cũng là một bài hát làm nên tên tuổi Quỳnh Anh. Lần này thì Quỳnh Anh có vẻ chững chạc hơn, bởi giờ đây Quỳnh Anh đang là sinh viên năm thứ 2 Khoa Văn chương rồi… Nhưng tôi mong làm sao Quỳnh Anh ơi, hãy giữ mãi chân tình của một cô gái Việt Nam. Tôi mong muốn Quỳnh Anh sẽ là một quả ngọt của cuộc đời này, hơn là một cánh hoa đẹp của cuộc đời. Bởi tôi tin vào nhân cách và đức hạnh của một Quỳnh Anh. Trong sáng và chân tình!
source
Vien Dong Daily

Thursday, 1 July 2010

Ông Năm Yersin



Cập nhật lúc 2:26:08 AM - 26/06/2010

268-H1.jpg


Viện Pasteur Nha Trang.


Bài và ảnh: Trần Công Nhung


Trước 1975 ở miền Nam, ai đã cắp sách đến trường, cũng đều biết đến bác sĩ Alexandre Yersin. Theo sử liệu, ông sinh ngày 22-9-1863 tại làng Lavaux (hạt Vaud), Thụy Sĩ, tốt nghiệp Đại học Y khoa tại Paris năm 1888. Ông gốc người Pháp, năm 1865 di cư sang Thụy Sĩ, năm 1889 phục hồi quốc tịch Pháp. Đang làm việc tại Viện Pasteur Paris, ông bỗng có ý định tìm đường về Viễn Đông, đến những vùng đất nhiệt đới đầy bí ẩn mà hồi giờ ông chỉ nghe qua sách vở, bản đồ. Để thực hiện mộng ước của mình, ông Yersin nhận làm y sĩ cho một công ty tàu biển từ Địa Trung Hải, qua Hồng Hải, đến Thái Bình Dương.

Ngày 29-7-1891, lần đầu tiên ông đặt chân lên bờ biển Nha Trang và có cảm tình đặc biệt với miền đất này. Ngoài lòng đam mê, thích mạo hiểm khám phá những vùng đất mới lạ, Alexandre Yersin còn là một bác sĩ chuyên về vi trùng học, được đào tạo theo truyền thống của Pasteur (thầy của ông). Do đó, ông còn nghiên cứu những căn bệnh nhiệt đới ở vùng châu Á. Năm 1894, dịch hạch bùng phát ở Quảng Châu, rồi lan sang Hồng Kông, đã lôi cuốn ông vào công cuộc truy tìm và ngăn chặn nạn dịch. Ông là người đầu tiên tìm ra vi trùng bệnh dịch hạch, tìm được huyết thanh phòng bệnh, dập tắt được bệnh dịch ở Trung Cộng. Từ đó, tiếng tăm Yersin đã nổi bật trong ngành y khoa thế giới.

Năm 1895, Bác sĩ Yersin đến Khánh Hòa lập nghiệp. Lúc đó, Nha Trang còn là bãi cát trắng mênh mông, người dân chuyên sống bằng nghề chài lưới, tập trung ở doi đất phía Nam cửa sông Cái, gọi là xóm Cồn. Tháng 9-1895, sau khi phòng thí nghiệm Yersin (nay là Viện Pasteur Nha Trang) được hình thành, bác sĩ Yersin nghĩ ngay đến việc lập trại nuôi ngựa, để sản xuất huyết thanh chống dịch hạch. Ban đầu, ngựa được nuôi gần thành Diên Khánh. Ở đây sẵn cỏ, lúa, nhưng không đủ diện tích để lập trại và làm đồng cỏ. Sau một thời gian tìm kiếm, bác sĩ Yersin đã chọn được đất tại Suối Dầu (cách Diên Khánh hơn 10km). Lúc này, Suối Dầu còn là một cánh rừng hoang, cây cối rậm rạp - toàn cây dầu rái - thuộc địa phận làng Xuân Phú và Khánh Xuân (Diên Khánh). Với số tiền khiêm tốn của mình chung với hai bạn đồng nghiệp là Roux và Calmette góp lại, họ đã chịu đựng dẻo dai để vượt qua những khó khăn, vất vả trong quá trình khai hoang. Bác sĩ Yersin đã biến dần vùng đất Suối Dầu thành một cánh đồng bắp, lúa, thuốc lá xanh tươi với những bầy ngựa, dê, cừu, trâu, bò. Ông cũng nhập về hai giống cây mới, trồng thử nghiệm. Đó là cây quinquina, điều chế thuốc ký ninh chữa bệnh sốt rét, và cây hevea cho cao su. Hai loại cây này không chỉ đã đem lại nguồn lợi đáng kể cho Viện Pasteur Nha Trang lúc bấy giờ, mà sau này trở thành một nguồn tài nguyên giá trị cho Việt Nam và toàn Đông Dương. Đến năm 1905, Suối Dầu đã trồng được 30 hecta cao su và bắt đầu lấy mủ. Năm 1914, diện tích trồng cao su ở Suối Dầu lên đến 307 hecta trên 1.200 hecta đất trồng trọt. Số súc vật (ngựa, trâu, bò, dê, cừu) lên đến 1.500 - 2.000 con. Có thể nói, cuối năm 1914, Suối Dầu đã trở thành một trang trại hoàn chỉnh.

Từ 1902 - 1904, Yersin được toàn quyền Đông Dương (Paul Doumer) điều ra Bắc để xây dựng và làm Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Y khoa Hà Nội. Nhưng rồi ông cũng tìm cách về Nha Trang sống và làm việc cho đến cuối đời.

Yersin là người bạn gần gũi, là ân nhân của người dân Nha Trang - Khánh Hòa. Ông được dân chài gọi với cái tên trìu mến: Ông Năm (Yersin). Năm 1898, xóm Cồn có dịch tả. Suốt nửa năm, ông dành mọi nỗ lực để ngăn chặn, cứu giúp người dân nơi đây thoát khỏi bệnh dịch hiểm nghèo. Tất cả sự tận tụy đó xuất phát từ tinh thần trách nhiệm và lòng nhân hậu của ông Năm đối với xóm chài nghèo. Ông nghiên cứu thiên văn và cho dựng cột trụ cao trên nóc nhà treo đèn, báo hiệu khi có gió to và bão, để ngư dân biết không đi biển hoặc tìm nơi trú ẩn. Tháng 11-1939 có trận bão lớn đổ bộ vào Nha Trang, ông Năm đưa dân lên trú ở khu vực nhà mình, nên không ai bị thiệt hại gì. Ông sống rất giản dị thanh bạch, mặc dù ông có thừa phương tiện để hưởng thụ cuộc đời giàu sang phú quí. Ông ở trong một tòa nhà vuông, cao, hai tầng, bốn mặt nhà đều có hành lang chạy, có thể phóng mắt nhìn ra bốn phương trời, núi Trường Sơn thăm thẳm, biển Thái Bình bát ngát mênh mông. Nhà được cất trên doi đất phía nam cửa sông Cái, gọi là xóm Cồn. Quanh nhà, các loại bìm bìm, bông bụp xanh, đỏ, hồng, tím mọc đầy.

Bác sĩ Yersin là một người sống rất bình dân, thường chỉ mặc bộ ka ki màu vàng, và dù đã 80 tuổi rồi mà sáng nào ông cũng đạp xe tới viện Pasteur. Ông lại có lòng nhân ái, hay dùng thời giờ rảnh rỗi dạy dỗ thêm cho những người dân chài chất phác chung quanh nơi ông ở. Ông thương cả đến loài cầm thú, chim muông và mỗi khi gọi con vật nào cũng kèm hai chữ “người ta” ở trước: Người ta chó, người ta mèo, người ta két... Ngày 1-3-1943, bác sĩ Yersin mất tại Nha Trang, hưởng thọ 80 tuổi.

Khoảng 10 năm cuối đời, Yersin ít đi xa. Phần lớn thời giờ ông ở Viện Pasteur Nha Trang, ở xóm Cồn, ở Suối Dầu, ông có dịp gần gũi hơn với người dân. Ông yêu mến trẻ con, giúp đỡ người già đau yếu, hướng dẫn cho dân ăn ở vệ sinh. Ông còn chăm nom đời sống tinh thần của người dân địa phương. Thỉnh thoảng ông chiếu phim tại sân nhà cho dân chúng xem, phim tài liệu thế giới, phim khoa học, phim hề Charlot. Nhờ vậy mà người dân hiểu biết thêm về nhiều mặt. Cộng đồng cư dân chung quanh xem ông Năm là ân nhân, là vị thần hộ mạng của họ. Khi ông mất, họ bỏ đi biển, thương khóc, chịu tang, tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Có người lập bàn thờ dâng hương theo phong tục của người Việt Nam. Đến bây giờ hỏi thăm những lão ông, lão bà ở xóm Cồn, ai cũng bày tỏ nỗi tiếc thương, coi ông Năm như Thánh Thần. Ở một góc độ khác, tôi nghĩ, bác sĩ Yersin là hiện thân của Bồ Tát đến cứu độ dân xóm Cồn trong những thập niên đầu thế kỷ 20.


268-H3.jpg


Khách sạn Bộ Nội Vụ (nhà cũ của Yersin)


Sau năm 1975, “nhà ...” đã đập phá ngôi nhà của ông “Năm Yersin” để xây dãy khách sạn ba tầng của bộ nội vụ. Người dân Nha Trang ai cũng thương tiếc di tích của một vĩ nhân, một người suốt đời hy sinh cho dân nghèo bản xứ, lúc chết cũng chỉ muốn nằm lại nơi này. Vậy mà do tình thế, bao nhiêu ân biến thành oán.


268-H2.jpg


Công viên Yersin


Ngày nay xóm Cồn không còn nữa, thay vào đó công viên Alexandre Yersin, coi như “đền bù” phần nào công lao của ông, chuyện đáng làm, nếu không thì đã là chỗ của “khách sạn sao”. Di tích bác sĩ Yersin chỉ còn ngôi mộ trong suối Dầu và đỉnh Hòn Bà, nơi ngày xưa ông có phòng thí nghiệm. Đây cũng là “hạng mục” trong các tours du lịch của Nha Trang. Giá mà nhà ông Năm không bị phá, bao nhiêu đồ đạc, kỷ vật của ông sẽ hấp dẫn du khách biết chừng nào. Thế giới sẽ đổ về nghiên cứu thăm viếng, Việt Nam hóa chẳng được thơm lây!

Viện Pasteur trên đường biển Nha Trang do ông sáng lập, là nét văn minh của Pháp còn sót lại. May mắn là Viện không chung số phận với nhà ông Năm, và được giữ nguyên vẹn kể cả màu sơn tường. Nhưng, điều đáng buồn là vào trong, lối làm việc của nhân viên ngày nay thật không ra làm sao cả. Có lần tôi đến phòng xét nghiệm, bảng chỉ dẫn ghi: “Lấy số chờ gọi”. Tôi chờ rất lâu cũng chẳng biết họ gọi đến số nào, trong khi nhiều người vào là đến cửa sổ làm thủ tục ngay. Khi tôi hỏi, thì bà nhân viên trả lời tỉnh bơ: “Bác muốn xét nghiệm gì? Ghi vào đây đóng 20 ngàn rồi chờ kêu tên”. Tôi ngớ ra định hỏi lại mấy câu, nhưng chợt nhớ nhà thơ Bút Tre nên thôi. Ông đã viết:


"Tiến lên, ta quyết tiến lên,

Tiến lên, ta quyết tiến lên hàng đầu.

Hàng đầu không biết đi đâu,

Đi đâu không biết hàng đầu cứ đi."


Dẫu sao cũng phải biết ơn Alexandre Yersin, có ông nay mới có một nơi cho dân chúng đến nhờ. Nha Trang còn có đường Yersin, một trong những con đường đẹp, tập trung nhiều cơ sở kinh doanh, bệnh viện, chạy từ đầu ngõ vào thành phố ra tận bờ biển (1). Tên tuổi Yersin không chỉ là điểm son về văn hóa, mà còn là một nhãn hiệu cho kinh doanh du lịch, vậy mà một thời đã bị sỉ vả như một tên thực dân mắt xanh mũi lõ. Người Nha Trang ngày nay tự an ủi: “Viện Pasteur, đường Yersin vẫn còn, lại thêm công viên Yersin, bấy nhiêu cũng mát mẻ cho linh hồn ông Năm và cũng là niềm vui của dân địa phương”.

Di tích bác sĩ Yersin còn khu mộ trong suối Dầu và đỉnh Hòn Bà, tôi sẽ đi thăm trong những ngày sắp tới.


Trần Công Nhung

03- 2004

(1). Đường Yersin sau 75 có lúc đã được đổi tên “Y Éc Sanh”, nay (2009) đã được mở rộng hơn trước, nhưng không là đại lộ.



source

Vien Dong Daily

Tuesday, 13 April 2010

Con là người Việt Nam...



Cập nhật lúc 2:37:11 AM - 12/04/2010

ConLaNguoiVN-1.jpg


Thiên Ân Christina D. và ba mẹ – ảnh: Hoàng Thanh/Viễn Đông


Hoàng Thanh/Viễn Đông


Quận Cam là một khu vực rộng lớn nằm ngay tại miền nam California nước Mỹ, thế nhưng hầu như người dân sống ở đây, nhất là các ông già bà cả, không cần phải biết tiếng Anh mà vẫn cứ an nhiên tự tại như thường. Thế mới lạ chứ! Mà cũng dễ hiểu thôi, bởi vì các nhà hàng, chợ búa, ngân hàng, các thương vụ ở đây, đâu đâu cũng đều có nhân viên người Việt. Ngay cả khi bạn cần gọi điện thoại cũng vậy, chỉ cần nhấc ống nghe lên, bấm số, thì có ngay một giọng nói: “Nếu muốn nói tiếng Việt, xin bạn bấm số 1...”, là mọi thứ sẽ “ok”. Có lẽ vì lý do đó mà người Việt lớn tuổi ở vùng này, dường như không cần và cũng không hề bao giờ muốn học tiếng Anh...


Sáng nay đi vô tiệm Lee’s Sandwich mua khúc bánh mì, lúc bước vào cửa tiệm, tôi nghe loáng thoáng câu chuyện của những người đàn ông Việt Nam ngồi ở mấy bàn uống cà phê. Bàn góc này thì đang bàn tán om sòm về vấn đề cải tổ y tế, còn bên góc nọ thì các bác đang thao thao tranh luận về chuyện thời sự Việt Nam, làm tôi có cảm giác như mình đang ở tại Việt Nam vậy. Người cao niên ở đây là vậy đấy. Nhưng giới trẻ thì lại khác hoàn toàn.


Tuổi trẻ ở xứ này, nhất là thế hệ sau này sinh ra tại Mỹ, thì dường như bị “dị ứng” hay sao đó với tiếng Việt. Họ mở miệng ra thì toàn là... English. Vô trường nói tiếng Anh đã đành, về nhà thì không bao giờ chịu mở miệng nói một chữ tiếng Việt. Anh chị em trong nhà luôn luôn xổ tiếng Anh với nhau, và cả với ba mẹ, họ cũng xổ cả tràng, mà các bậc phụ huynh không sao hiểu nổi.

Bởi vậy mới nói ở cái xứ này, gia đình nào mà có được đứa con nào “chịu” nói tiếng Việt, thì phải nói là có “phước” vô cùng, bởi vì cho dù ba mẹ có năn nỉ, hay rầy la, thậm chí làm dữ đi chăng nữa, thì những đứa trẻ cũng làm theo ý chúng, nghĩa là nói tiếng Anh cho... lẹ hơn và khỏi cần phải suy nghĩ cho mệt óc...


Bố Mỹ, mẹ Việt, con... nói tiếng Việt


Tuần rồi, tôi lên thăm bà chị đang sống ở Arizona. Chồng chị, anh Timothy, là người Mỹ trắng chính hiệu, và hai vợ chồng chỉ có một đứa con gái duy nhất, năm nay tròn 4 tuổi. Tên của cháu trên khai sinh là Christina, còn tên Việt Nam ở nhà là Thiên Ân. Sở dĩ có cái tên này là vì chị tôi lập gia đình hơi trễ, nên thử hoài vẫn không có bầu được. Chị buồn lắm và đã định đi làm thụ tinh trong ống nghiệm, nhưng kẹt cái là mắc tiền quá. Ngày nào chị cũng cầu nguyện và cuối cùng thì ước nguyện của chị được thành tựu. Chị mừng lắm nên đặt tên con là Thiên Ân, để cám ơn Chư Phật và các đấng bề trên.

Cháu rất kháu khỉnh, da trắng như tuyết, nhìn thì có nét Mỹ nhiều hơn là Á Châu. Mãi cho đến năm 2 tuổi, cháu không hề biết một chữ tiếng Việt nào, vì ở nhà chị nói chuyện với chồng bằng tiếng Anh.

Cách đây 2 năm, vợ chồng chị dẫn cháu về thăm gia đình ở Canada, để cháu biết mặt Ông Bà Ngoại và mấy Dì. Suốt hai tuần vacation, cả nhà chỉ nói toàn tiếng Việt, có ai dạy cháu chữ nào đâu, vậy mà khi trở qua Mỹ, bỗng dưng cháu bắt đầu nói tiếng Việt... mà lại nói khá lưu loát mới lạ chứ. Chị tôi cũng ngạc nhiên lắm, vì có nhiều danh từ, không biết học từ đâu hay nghe ai nói mà cháu nói ra, làm chị không thể nào tin nổi vào tai mình nữa.

Chị kể một ví dụ lời cháu nói: “Mommy, Na biết xay sinh tố bơ rồi, nó dễ ợt hà ...”. Đã “dễ” mà còn “ợt” nữa thì mới đúng là dân Việt Nam chính hiệu chứ lị. Tôi ngạc nhiên khi cháu nói tiếng Việt rất rành rẽ, với cái giọng con nít thiệt là dễ thương.

Còn nữa, khi tôi đến, cháu bảo tôi: “Dì phải ăn nhiều thêm nhe, uống vitamine nữa, chứ dì ốm ‘thấy mồ’ hà. Con gái mà ốm thì ‘xấu quắc’ cho mà coi...”. Tôi ngạc nhiên cùng cực, hỏi chị tôi làm sao cháu biết những từ này, “thấy mồ”, rồi lại “xấu quắc” nữa? Chị tôi cười, đáp rằng chị cũng không hiểu từ đâu.

Tôi hỏi cháu là “ai dạy con nói vậy, từ đâu mà con biết những danh từ này?”.

Cháu nói thật vô tư: “Tự Na biết hà, tại Na thông minh mà...”

Cháu còn lém lỉnh đố tôi có biết tên cháu Thiên Ân từ đâu mà có, và có nghĩa là gì không. Tôi giả vờ ngây thơ không biết, thì cháu làm lanh giải thích cho tôi nghe: “Thiên là ông Trời nè, còn Ân là thank you, là cám ơn đó. Mommy đặt cho Na tên là Thiên Ân là để thank you ông Trời đó, cho Mommy đẻ ra Na...”.


Trẻ em tiếp thu ngôn ngữ rất nhanh


Chị tôi kể rằng từ lúc trở qua Mỹ sau kỳ nghỉ bên Canada, chị và ông xã rất bất ngờ về việc con chị bỗng nhiên nói tiếng Việt giỏi ngoài sức tưởng tượng, nên chị có đến gặp và hỏi cô giáo ở nhà trẻ của cháu về hiện tượng này. Các cô giải thích rằng đây là điều hoàn toàn tự nhiên ở một đứa bé phát triển bình thường. Từ ở lứa tuổi còn rất nhỏ, các cháu đã có khả năng tiếp thu và học ngoại ngữ rất mau lẹ, hơn một người lớn nhiều lắm. Chỉ cần nghe người khác nói, thì trí não các cháu tự hoạt động và có thể tự đoán biết nghĩa của một số từ vựng, có khi không cần hỏi hay cần có ai giải thích. Từ lâu, chị tôi đã có ý muốn con mình sau này phải biết cả 3 thứ tiếng: Việt, Anh và Pháp.

Tôi cự lại: “Con nít nhỏ xíu mà học chi dữ vậy? Đầu óc của nó bé tí mà chị nhồi nhét quá chừng, thì chỗ đâu mà chứa?”. Nghe cũng có lý, nên chị hơi do dự, rồi cuối cùng chị rủ tôi đến nhà trẻ để hỏi ý kiến của các cô giáo tại đây. Các cô lại vô cùng khuyến khích điều này. Cô Jeannine đưa chị tôi mượn cuốn sách: “Touch Points - The Essential Reference - Your Child's Emotional and Behavioral Development” và bảo đem về đọc đi. Thế là chị và ông xã mầy mò đọc cả tuần cho hết.

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả (ông cũng là một bác sĩ) T. Berry Brazelton, thì mọi trẻ em đều có khả năng học và biết (nghe, nói, viết) thông thạo đến 8 ngoại ngữ hay hơn nữa, nếu như được cho học khi các cháu còn rất nhỏ. Cũng theo tác giả này thì khả năng này bắt đầu từ lúc 2, 3 tuổi, lên cao nhất ở 5, 6 tuổi và kể từ 8 tuổi trở đi thì khả năng này sẽ từ từ giảm dần đi. Các bậc phụ huynh có thể nên lưu ý điều này để hướng dẫn con em mình học ngoại ngữ...


Con là người Việt Nam...

Phải công nhận là nền giáo dục ở xứ Mỹ này có nhiều điều rất hay và đáng học hỏi. Từ lúc mới vào nhà trẻ, các bé đã được hướng dẫn để có ý thức về nguồn gốc và tiếng nói của mình. Tôi may mắn có một lần được dự ngày Đa Văn hóa (Multicultural Day) do nhà trẻ bé Thiên Ân tổ chức.


ConLaNguoiVN-2.jpg


Thiên Ân Christina D. trong tà áo dài Việt Nam – ảnh: Hoàng Thanh/Viễn Đông


Đó là ngày mà các cháu được thầy cô khuyến khích nên mặc đồ quốc phục, hay bất cứ quần áo gì mà rất đặc biệt, chỉ đặc trưng cho dân tộc mình, và hát những bài hát bằng tiếng mẹ đẻ. Dĩ nhiên bé Ân được Mẹ cho mặc áo dài và đội khăn đóng. Bé mê lắm, chạy nhảy và khoe hết với mọi người. Chị tôi còn “bày đặt” làm một dây choàng như các hoa hậu với hàng chữ “Miss America – Vietnam”.

Tôi giả bộ thắc mắc về hàng chữ này thì được Thiên Ân “lên lớp” như sau: “Dì biết hông, Miss là hoa hậu, nghĩa là Na vừa là hoa hậu Việt Nam vừa là hoa hậu Mỹ luôn đó, dì thấy Na đẹp ghê chưa...”.

Tình cờ lúc đó có một bà phụ huynh của cậu bạn học cùng lớp Na bước đến, bà trầm trồ khen chiếc áo dài đẹp quá, rồi bà hỏi Thiên Ân: “What's your nationality?". Bé đáp ngay, với nét mặt tự đắc, rõ ràng từng tiếng: “I am Vietnamese”, làm cả tôi, chị tôi và bà này bật cười ngất.

Hôm đó, khi được cô giáo gọi lên hát một bài hát, Thiên Ân đã hát say sưa: “Em sẽ là mùa Xuân của Mẹ, Em sẽ là màu nắng của cha, Em đến trường học bao điều lạ, Tình nồng thắm như mặt trời xa…”, vừa hát vừa làm điệu bộ nữa chứ. Cả lớp chưa dứt tiếng vỗ tay, thì bé Na đã vội vàng hỏi ngay các bạn: “Do you understand? Let me translate into English for you...”. Nói là làm liền, cô bé đứng dịch một tràng ra tiếng Anh ý nghĩa lời bài hát.

Tôi ngạc nhiên quá đỗi, nên kề tai hỏi nhỏ bà chị: “Chị dạy nó bài hát này hả?”. “Còn ai trồng khoai đất này” - chị tôi mỉm cười vui vẻ đáp. “Cả 2 tuần trước, nó cứ đeo theo đòi tao phải dạy cho nó một bài hát tiếng Việt, nó nói là phải hát tiếng Việt thì tụi bạn nó mới biết là nó người Việt Nam...”.

Cũng trong ngày hội này, chúng tôi gặp một cô người Việt Nam đi với cậu con trai, cậu bé này học trên Thiên Ân một lớp. Chị tôi bắt chuyện hỏi: “Sao cô không cho cháu mặc quốc phục Việt Nam?”. Cô này nhăn mặt: “Ối giời! Bày đặt chi cho mệt, đời chưa đủ cái lo sao mà trường học còn bày trò này trò nọ...”. Hai chị em tôi đưa mắt nhìn nhau, không nói lời nào. Bởi thế mới biết, không phải ai cũng cùng một suy nghĩ như nhau, về quốc phục hay về tiếng nói của dân tộc mình...


Trên đường về, chị tôi nói với con: “Nếu ai hỏi con là người nước nào, thì con trả lời, ‘con là người Việt Nam và người Mỹ’, nhe Na, tại vì con là half Vietnamese, and half American mà...”. Đột nhiên, cháu nói ngay: “Na sinh ra ở Mỹ, thì dĩ nhiên Na là người Mỹ rồi, Na phải nói Na là người Việt Nam thì người ta mới biết chớ...”.

Chị tôi ngẩn ngơ, rồi chị nhìn tôi cười, một nụ cười hạnh phúc...


Nói chuyện bé Na làm tôi chợt nhớ đến mấy đứa cháu, con của ông anh họ. Anh này chủ trương là “cứ để cho con cái phát triển tự nhiên”, nên các con anh không hề được học tiếng Việt cho đến năm 15 tuổi. Ở nhà, anh chị nói chuyện với các con bằng tiếng Anh. Khi được 15 tuổi thì anh mới cho các cháu theo học lớp dạy tiếng Việt miễn phí ở cộng đồng Việt Nam. Nhưng có lẽ là quá trễ, nên mấy cháu nói tiếng được tiếng không, giọng thì cứ lơ lớ không sao hiểu được.

Mỗi lần đến thăm anh chị thì bao giờ tôi cũng chỉ hiểu được có mỗi 2 tiếng "Hi, chào Cô", rồi sau đó các cháu có nói gì thì tôi cũng chỉ như vịt nghe sấm mà thôi. Mà các cháu cũng không thiết tha gì với thứ tiếng “sao mà ‘too difficult’” (nguyên văn lời các cháu), “English only has You and I, còn Việt Nam sao mà ‘too much’: anh, em, cô, chú, bác... It makes me get a headache...”.

Cứ mỗi lần tôi lên thăm chị tôi là y như rằng bé Na kỳ nèo tôi đọc sách tiếng Việt cho cháu nghe, dù cháu đã thuộc lòng và có thể kể vanh vách chuyện Tấm Cám, chuyện Sự tích Trái Dưa Hấu, Cô bé Lọ Lem...

Có một lần, bỗng dưng cháu hỏi tôi: “Dì ơi, hạnh phúc là gì?”. Bị hỏi quá bất ngờ, tôi tự nhiên đâm ra lúng túng, nhìn chị tôi cầu cứu. Chị tôi ấp a ấp úng: “Hạnh phúc... là... là... là mình vui đó con, mình vui lắm...".

Bé Na hỏi ngay: “Hạnh phúc có phải là ‘happy’ không, Mẹ?”. Mẹ cháu mừng rỡ “chộp” liền câu đó: “Đúng rồi, là happy, là happy đó con...”. Thế là bé Na ngồi cười chúm chím: “Con very hạnh phúc now...”. Thì ra trong tâm trí cháu vẫn còn những từ ngữ xen kẽ giữa tiếng Anh và tiếng Việt, và chỉ cần 2 tiếng “happy” là đã có thể giúp cháu hiểu trọn vẹn ý nghĩa thế nào là “hạnh phúc”, mà không cần thêm một lời giải thích nào của người lớn...

Từ lúc nói được tiếng Việt, ở nhà, cháu luôn luôn nói chuyện với Mẹ bằng tiếng Việt, chỉ với Ba thì cháu mới nói tiếng Anh. Năm ngoái, tôi và gia đình chị tôi lái xe xuống San Diego chung vui dịp Giáng Sinh với gia đình ba mẹ chồng chị. Trên xe, chị cứ dặn đi dặn lại bé Na là: “Con nhớ xuống nhà Grandpa, Grandma, con nói tiếng Anh nghe không, vì Grandpa và Grandma không hiểu tiếng Việt, con nói vậy, họ sẽ buồn…”. Na hỏi lại liền: “Tại sao lại buồn? Na muốn nói tiếng gì thì Na nói chứ…”. Chị tôi nhẹ giọng: “Nhưng mình phải lịch sự, con à, mình đến nhà Grandpa, Grandma mình phải nói tiếng Anh thì họ mới hiểu, thì họ mới vui…”.

Bé Na im lặng không nói gì, nhưng chỉ một phút sau, bé quay sang tôi: “Dì ơi, hễ lúc nào mà mình muốn nói lén họ, thì mình nói tiếng Việt dì há, họ sẽ không hiểu được…”. Tôi tròn xoe mắt ngạc nhiên: “Nói lén là sao hở con? Mà tại sao mình phải nói lén họ chứ?”. Na nói liền: “Thì thí dụ như Na không muốn ăn cơm nữa, Na giả bộ nói với Grandma là ‘I am full’, nhưng Na sẽ nói với Dì là “mình đừng ăn cơm nữa, mình ra sân chơi nhe’, thì lúc đó dì cũng nói là ‘I am full’ luôn nhe, rồi mình ra vườn chơi há...”. Bà chị tôi chỉ còn có nước lắc đầu...


Hôm tiễn tôi ra phi trường, bé Na cứ khóc hoài và cứ lập đi lập lại mãi một câu duy nhất: “Na muốn dì ở lại lắm, Na thương dì nhiều thiệt nhiều, very much...”. Tôi lảng tránh cơn xúc động bằng cách cười giỡn, nói chuyện này chuyện nọ cho cháu vui. Tôi hỏi: “Con là người gì nè? Nói dì nghe coi…”, thì lập tức Na hết khóc ngay, hai con mắt tròn xoe, ráo hoảnh, nhưng vẫn còn hai giọt nước mắt long lanh, đọng trên hai khóe mắt trong suốt như hai giọt sương.

Bé “vênh” cái mặt lên và hãnh diện nói: “Con là người Việt Nam...”.

Và câu nói này, một câu nói thật hoàn toàn vô tư, tự nhiên, từ miệng một cháu bé chỉ mới 4 tuổi, theo tôi mãi trên suốt chuyến bay về lại Cali...

Con là người Việt Nam! Ước gì mỗi cháu bé “da vàng, mũi tẹt” sinh ra ở xứ Mỹ này đều có thể hãnh diện mà thốt lên câu nói này.

source
Vien Dong Daily

Tuesday, 9 March 2010

“Luật pháp không thay đổi, nhưng khi áp dụng... thì có thể khác nhau”


Cập nhật lúc 1:56:50 AM - 10/03/2010

NguyenConf5621re.jpg


Thẩm phán Liên bang Jacqueline Nguyễn Thị Hồng-Ngọc – ảnh: Văn phòng Tòa án Liên bang cung cấp.


Bách Lam/Viễn Đông (thực hiện)


LOS ANGELES – Giữa năm 2009, Tổng thống Barack Obama đã đề cử và Thượng Viện Hoa Kỳ phê chuẩn một thẩm phán người Mỹ gốc Việt đầu tiên tham dự vào ngành tư pháp liên bang. Với tỷ lệ phiếu thuận 97-0, bà Jacqueline Nguyễn Thị Hồng Ngọc, 45 tuổi, đã được Thượng Viện đồng lòng chấp thuận hồi cuối năm ngoái để trở thành thẩm phán liên bang khu vực Trung California, gồm các quận hạt Orange, Los Angeles, San Bernadino, Riverside, Ventura, Santa Barbara, và San Luis Obispo.

Jacqueline Nguyễn tốt nghiệp đại học Occidental College năm 1987, đậu Tiến sĩ Luật khoa đại học UCLA năm 1991. Bà làm việc cho một công ty luật ở Los Angeles từ khi ra trường đến năm 1994. Sau đó bà chuyển sang làm công tố viên cho văn phòng Công tố Liên bang khu vực Trung California từ năm 1995 đến năm 2000. Cựu Thống đốc Gray Davis bổ nhiệm bà vào chức vụ thẩm phán Tòa Thượng Thẩm Quận Los Angeles từ năm 2002 cho đến khi bà được Tổng thống Obama đề cử vào chức vụ mới.

Bà Jacqueline Nguyễn lập gia đình với một luật sư làm cho văn phòng Công tố Liên bang ở Los Angeles. Song thân của bà là ông bà Thiếu tá Quân đội Nguyễn Bình, phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Gia đình bà ở Đà Lạt đến năm 1975 thì sang tị nạn tại Hoa Kỳ.

Thẩm phán Jacqueline Nguyễn đã chính thức nhận nhiệm sở liên bang từ tháng 12-2009 trong một nghi thức tuyên thệ đơn giản ở văn phòng địa phương. Thứ Sáu tuần này, 12-3-2010, bà sẽ có một buổi lễ nhậm chức chính thức dành cho khách mời, gia đình, và thân hữu tại Tòa án Khu vực Trung California ở Los Angeles. Chiều thứ Ba, 9-3-2010, Thẩm phán Liên Bang Jacqueline Nguyễn Thị Hồng-Ngọc đã dành cho Viễn Đông một cuộc phỏng vấn qua điện thoại.


Viễn Đông: Xin chúc mừng bà đã bắt đầu công việc mới. Bà đã từng làm một luật sư cho một công ty luật, rồi chuyển sang làm công tố cho văn phòng Công tố Liên bang Hoa Kỳ, nghĩa là bà đã đứng đại diện cả hai phía trong nhiều vụ tranh tụng, sau đó mới chuyển qua làm thẩm phán một Tòa Thượng Thẩm. Cơ duyên nào đưa đẩy bà vào công việc của một thẩm phán, vốn rất khác biệt với hai công việc luật sư và công tố?

Thẩm phán Liên bang Jacqueline Nguyễn: Sau khi ra trường luật, tôi may mắn được vào làm cho một công ty luật với nhiều cơ hội tốt, một kinh nghiệm làm việc mà tôi rất yêu thích. Nhưng tôi vẫn thấy muốn phục vụ công chúng. Đang làm cho Musick, Peeler & Garrett, tôi gặp một số đồng nghiệp vừa rời ngành công tố để nhận việc tại một công ty tư nhân và một số người khác đang làm trong văn phòng Công tố Liên bang. Sau khi nói chuyện với họ, tôi cảm nhận rằng mình có lẽ thích hợp hơn với công việc công quyền. Văn phòng Công tố Liên bang tại địa phương này lại là một trong những nơi có công việc tuyệt vời nhất trong ngành luật tại Los Angeles. Những vụ kiện nơi đây rất lý thú, lại có nhiều cơ hội cho tôi tranh cãi trước tòa trong khi tuổi còn khá trẻ. Và cơ hội nhận công việc mới đã đến với tôi. Rồi từ đó, tôi có 8 năm rất tốt đẹp làm công tố viên cho Văn phòng Công tố Liên bang. Sau một thời gian, tôi lại nghĩ rằng mình có thể thay đổi công việc lần nữa. Với sự khuyến khích của những người hướng dẫn, cố vấn cho tôi trong ngành, tôi thử bước chân vào sự nghiệp của một thẩm phán. Mới đầu, tôi hoàn toàn không nghĩ đến việc làm một thẩm phán. Nhưng có lẽ những đồng nghiệp nhìn mình và phán đoán về mình giỏi hơn là chính mình; họ cho tôi là người thâm trầm, có thể làm công việc thẩm phán được. Sau khi suy nghĩ khá lâu, tôi quyết định nộp đơn và may mắn được nhận làm thẩm phán do cựu Thống đốc Gray Davis bổ nhiệm.


Viễn Đông: Là một công tố viên, bà đã từng làm việc trong những lãnh vực luật pháp nào?

TPLB Jacqueline Nguyễn: Tôi bắt đầu với một ban chuyên khởi tố những vụ án tội phạm thông thường. Sau đó, tôi dời qua ban trưng dẫn chi tiết hình sự. Kế tiếp là một ban chuyên về những vụ tham nhũng và lừa gạt trong chính phủ, rồi đến ban chuyên về những tội phạm có tổ chức. Cuối cùng, tôi trở lại ban chuyên về tội phạm thông thường để huấn luyện các công tố viên trẻ mới vào ngành trong cương vị một Phụ tá Công tố viên Trưởng. Nói chung, tôi thích gặp những thử thách mới và tạo cơ hội cho chính mình có nhiều kinh nghiệm đa dạng.


Viễn Đông: Khối kinh nghiệm đa dạng đó sẽ giúp bà ra sao trong công việc mới của một thẩm phán?

TPLB Jacqueline Nguyễn: Đương nhiên là rất hữu ích. Tôi cũng đã quen thuộc với hệ thống luật pháp liên bang, và điều này giúp tôi rất nhiều. Những thể loại các vụ án tôi đã giúp khởi tố trong vai trò một công tố viên, nay tôi gặp lại ở cương vị một thẩm phán. Công việc truy tố rất khác với vai trò một người đưa ra quyết định công lý.


Viễn Đông: Khi làm công tố viên, bà nhớ nhất những trường hợp vụ án nào?

TPLB Jacqueline Nguyễn: Cho phép tôi không nói về một trường hợp nào cụ thể, vì hiện nay tôi đang làm công việc của một thẩm phán. Nhưng rõ ràng là tôi đã nhận nhiều vụ án rất thú vị và đa dạng.


Viễn Đông: Bây giờ làm thẩm phán, nghĩ lại, bà có thấy mình có thể thuyết phục chính mình với những bằng chứng cho một vụ án nào đó do bà đưa ra khi còn làm công tố viên không?

TPLB Jacqueline Nguyễn: Đây cũng là một điều thú vị, vì trước khi nhận trách nhiệm bên phe công tố, tôi cũng từng nhắm đến công việc của một luật sư bào chữa công (người được giao nhiệm vụ biện hộ miễn phí cho những nghi can không mướn luật sư tư nhân). Hai công việc, đối với tôi lúc đó, là một chín một mười. Sau cùng, tôi chọn làm công tố viên vì nhận thấy văn phòng Công tố cho tôi những cơ hội thích hợp với khả năng và ý thích của mình hơn.

Còn trong vai trò thẩm phán bây giờ, nếu đặt lại câu hỏi là tôi có thể trở nên công bằng trong những quyết định của mình hay không sau khi đã làm một công tố viên, thì tôi không thấy đó là vấn đề. Nhiệm vụ của một thẩm phán là áp dụng luật pháp một cách chặt chẽ và cho cả hai phe công tố lẫn biện hộ một cuộc xử án công bằng. Cho nên, từ một công tố viên chuyển sang làm thẩm phán, tôi thấy khá dễ dàng.


Viễn Đông: Có lẽ vì không có hai vụ án nào giống nhau?

TPLB Jacqueline Nguyễn: Mỗi vụ án tiến triển tùy theo các sự kiện của vụ án đó. Luật pháp không thay đổi, nhưng khi áp dụng luật pháp vào từng trường hợp, hoàn cảnh cụ thể thì có thể khác nhau. Và đây là điểm quan trọng nhất.


Viễn Đông: Khi nào thì bà áp dụng luật một cách chặt chẽ, còn khi nào thì bà phải đắn đo hơn?

TPLB Jacqueline Nguyễn: Có những trường hợp tương đối dễ dàng, đó là khi luật pháp hướng dẫn rõ ràng và mình chỉ cần áp dụng thật đúng vào phán quyết của mình. Những trường hợp khác khó khăn hơn vì phức tạp hơn, và nhiệm vụ của thẩm phán lúc đó là xem hết bộ luật ứng dụng cho địa hạt của mình, trong trường hợp của tôi là địa hạt số 9, để cho ra một quyết định sau cùng. Nghĩa là, nếu mình không tìm được một trường hợp trước đây đã có phán quyết rõ ràng để noi theo, thì mình phải xem lại tất cả luật lệ một cách tổng quan, xem những phán quyết trước đây như thế nào, và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định.


Viễn Đông: Hồi còn là học sinh, bà có tham dự những sinh hoạt ngoại khóa đưa bà vào con đường phục vụ luật pháp không?

TPLB Jacqueline Nguyễn: Ồ, không, hồi mới qua đây năm 1975, tôi được gần 10 tuổi. Lúc đó tôi còn học Anh văn trong các lớp ESL. Sau khi vào đại học, tôi nghĩ mình sẽ đi về ngành y, học Pre-Med, theo ý hướng của cha mẹ tôi. Cha mẹ tôi, như nhiều bậc phụ huynh khác, mong muốn con mình trở thành bác sĩ. Nhưng tôi không có duyên với các ngành khoa học cho lắm, mà lại rất thích ngành nhân văn học. Tôi yêu thích văn chương Anh ngữ. Do đó, tôi chọn chuyên ngành văn chương Anh và tốt nghiệp cử nhân ngành này. Không ngờ, chuyên ngành này lại giúp tôi rất nhiều khi học Luật, vì phải đọc, viết, và phân tích rất nhiều. Khi mới ra đại học, thật khó tìm việc làm vì có rất ít công việc cho một cử nhân Anh văn. Nên tôi thi LSAT (cuộc thi để vào trường luật), đậu điểm khá cao, rồi nộp đơn vào trường luật. Thật ra, khi còn nhỏ, tôi không được như các bạn trẻ bây giờ, rất ngăn nắp, quyết đoán, biết mình làm gì. Lúc đó, tôi thực sự chưa biết mình muốn làm gì, vì thời đó, tôi chưa được gặp ai làm trong ngành luật để tìm hiểu thiên hướng của mình. Và cũng may mắn là tôi đã tìm ra đường vào ngành luật.


Viễn Đông: Điều bà vừa kể có thể giúp cho một số thanh thiếu niên hiện nay chưa tìm ra định hướng nghề nghiệp cho riêng mình.

TPLB Jacqueline Nguyễn: Tôi cũng thường đi nói chuyện nhiều nơi, chia sẻ kinh nghiệm của mình với các em. Tôi cho các em thấy rằng, có thể lúc đầu mình còn bỡ ngỡ, còn lúng túng, nhưng như trường hợp của tôi thì đến giờ này có thể nói là tôi cũng đã khá ổn định và tương đối thành công trên con đường mình chọn. Tôi nghĩ rằng, đối với những em nào đã có sẵn định hướng nghề nghiệp rõ ràng, đó là điều rất tuyệt vời. Tuy nhiên, hãy cứ để cho mình cơ hội, cứ mở mắt nhìn xung quanh, biết đâu lại gặp những gì khác hay ho hơn. Còn đối với những em chưa biết phải làm gì trong cuộc sống, cũng không sao. Hãy đi tìm cho mình những gì mình thực sự yêu thích, thực sự muốn theo đuổi, để làm động lực thúc đẩy mình đi tới. Như trường hợp của chính mình, tôi đã tìm được công việc mà mình yêu mến, và điều đó còn quan trọng hơn cả tiền bạc kiếm được. Trong suốt sự nghiệp của tôi, tôi cũng đã từng có một số quyết định không đưa đến lợi tức khả quan lắm, nhưng tôi luôn luôn cảm thấy hạnh phúc với quyết định của mình. Và tôi thường hay nhắc nhở các bạn trẻ về điều này.


Viễn Đông: Một tuần bà làm việc bao nhiêu giờ? Chắc là phải hơn 40 tiếng?

TPLB Jacqueline Nguyễn: (Cười) Thật ra công việc không bao giờ chấm dứt. Tại tòa án ở khu vực Trung California nơi tôi làm việc, công việc chất cao như núi. Tôi có cảm tưởng như không có đủ thời giờ trong ngày để làm tất cả những gì mình phải làm. Lúc nào công việc cũng còn đó. Đây cũng là một thử thách cho những ai làm công việc này về lâu về dài, trừ phi người đó rất là yêu nghề. Tôi làm việc trong ngày, ban đêm, cả cuối tuần nữa, mà vẫn không thấy quá sức chịu đựng vì tôi yêu công việc.


Viễn Đông: Từ khi nhận nhiệm sở đến nay, bà đã phải làm việc với bao nhiêu vụ án, vụ kiện?

TPLB Jacqueline Nguyễn: Hiện tại, tôi có trong tay hồ sơ của hơn 350 vụ kiện dân sự và có khá nhiều những trường hợp hình sự nữa.


Viễn Đông: Bà có phải đi xa nhiều không?

TPLB Jacqueline Nguyễn: Vâng, tôi đi vì công việc ở thủ đô Washington cũng vài lần, mới tuần rồi thì đi Texas.


Viễn Đông: Bà có nghĩ là đến lúc nào đó có thể thảo luận về một vụ án, vụ kiện cụ thể không? Nhất là sau khi vụ kiện hay vụ án đó xem như đã đóng sổ?

TPLB Jacqueline Nguyễn: Tôi không muốn nói đến trường hợp nào cụ thể. Ngay cả khi hồ sơ đó xem như đã xong, tôi không cho là mình nên nói về chi tiết một trường hợp nào.


Viễn Đông: Mà thực ra một vụ án hay một vụ kiện có lẽ không bao giờ thực sự “đóng sổ” phải không?

TPLB Jacqueline Nguyễn: (Cười) Thực sự thì mình không thể biết được một vụ án hay vụ kiện có thể trở lại dưới hình thức nào.


Viễn Đông: Bà có được mấy người con?

TPLB Jacqueline Nguyễn: Chúng tôi có hai đứa con, một đứa 8 tuổi, một 10 tuổi.


Viễn Đông: Công việc bận như vậy, bà có dành được nhiều thời giờ cho các con không?

TPLB Jacqueline Nguyễn: Tôi luôn luôn cố gắng tìm thời gian cho các con. Công việc thì lúc nào cũng còn đó, nhưng con cái mình thì lớn rất nhanh. Các con tôi là ưu tiên hàng đầu. Đó cũng là khó khăn cho người phụ nữ vừa có sự nghiệp riêng, vừa có gia đình, và phải làm sao cân bằng được cả hai bên.


Viễn Đông: Một câu hỏi chót, lúc ra Ủy ban Thượng Viện để được phê chuẩn, bà cảm thấy thế nào?

TPLB Jacqueline Nguyễn: Quả là một kinh nghiệm rất thú vị cho tôi. Chẳng có gì giúp tôi chuẩn bị được cho lần bước qua ngưỡng cửa Điện Capitol của Quốc Hội để vào căn phòng nơi cuộc điều trần của Ủy ban Thượng Viện diễn ra. Chúng ta đã từng xem những buổi điều trần tương tự trên truyền hình. Tôi cũng để nhiều tâm trí vào việc chuẩn bị tinh thần cho buổi đó. Nhưng khi bước vào thì đúng là một sự ngạc nhiên chưa từng thấy. Tôi được một bữa thích thú, một kinh nghiệm đáng nhớ. Và buổi điều trần diễn ra tốt đẹp. Còn kết quả phiếu bầu chắc cũng đã nói lên điều đó (Cười).


Viễn Đông: Xin cám ơn Thẩm Phán đã dành thời giờ trả lời phỏng vấn Viễn Đông.


source

Vien Dong Daily

********************

Luật sư Lê Thị Công Nhân xác định sẽ tiếp tục (...)

Trọng Nghĩa

Bài đăng ngày 10/03/2010 Cập nhật lần cuối ngày 10/03/2010 18:01 TU

Luật sự Lê Thị Công NhânD.R

Luật sự Lê Thị Công Nhân
D.R

Theo hãng tin Pháp AFP, trả lời phỏng vấn qua điện thoại ngày 10/03/2010, nhà luật sư trẻ vừa mãn hạn tù 3 năm, cho biết là cô sẽ tiếp tục cuộc (...), kể cả khi cô bị "gạt ra bên lề xã hội''.

Theo luật sư Lê Thị Công Nhân, thời gian tù tội vừa qua chỉ giúp cô ''kiên định thêm niềm tin'' trong công cuộc đấu tranh.

(...)

source
FRI Vietnamese