Thursday, 9 September 2010

Phỏng vấn Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn Lê Thành Ân


Phỏng vấn Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn Lê Thành Ân
Wednesday, September 08, 2010



Chức vụ mới ở quê hương cũ, 'vừa vinh dự, vừa đặc ân'

Tổng Lãnh Sự Lê Thành Ân. (Hình: vietnamese.hochiminh.usconsulate.gov)






Tôi thấy Việt Nam là “nhà” chỉ khi nào tôi ngoắc một chiếc taxi, nhờ người tài xế đưa tôi đến một địa chỉ khó tìm, rồi anh ta quay lại và nói: “Ông nói tiếng Việt giỏi quá!”



Thực hiện: Tiffany Lê/Người Việt
Chuyển ngữ: Triệu Phong/Người Việt


Tổng Lãnh Sự Lê Thành Ân
Món khoái khẩu nhất: Cơm tấm bì thịt nướng ăn với đồ chua.
Nhạc thích nhất: Trịnh Công Sơn và cải lương, đặc biệt vở “Lương Sơn Bá-Chúc Anh Ðài.”
Mục tiêu cá nhân: Khuyến khích làm từ thiện, giúp đỡ cô nhi viện, bệnh viện, trường học.
Mẹo vặt khi đi bộ: Giữa hàng hàng lớp lớp xe cộ, hãy cứ bước tới, trong khi mắt nhìn vào dòng xe đang tiến về phía mình.

Ông Lê Thành Ân, người gốc Gò Công, vừa trở thành tổng lãnh sự gốc Việt đầu tiên của Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Ông Lê Thành Ân sinh năm 1955, sang Mỹ từ năm 1965, từng làm việc cho Bộ Hải Quân Hoa Kỳ trước khi chuyển sang ngành ngoại giao. Ông từng có nhiệm sở tại các thành phố Bắc Kinh, Tokyo, Kuala Lumpur, Singapore, Seoul, và Paris, trước khi đến Việt Nam. Trong bài phỏng vấn dưới đây, dành cho phóng viên Tiffany Lê của Người Việt, ông Ân nói rằng trở thành Tổng Lãnh Sự tại nơi chôn nhau cắt rốn, đối với ông, “vừa là một vinh dự, vừa là một đặc ân to lớn.”

Tiffany Lê (NV): Gia đình ông sẽ thích ứng với “quê hương mới” ra sao?

Tổng Lãnh Sự (TLS) Lê Thành Ân: Thành phố Hồ Chí Minh sẽ là nhà của chúng tôi trong ba năm tới. Ðời sống ở Việt Nam mang lại nhiều thuận lợi về mặt văn hóa lẫn ngôn ngữ. Ðể đạt được đúng ý nghĩa là gia đình, chúng tôi sẽ phải hòa mình với quá khứ của quê cha đất tổ.

Việt Nam trở nên một sân chơi của khai phá và cả phiêu lưu. Mỹ Anh, 16 tuổi, đứa con gái nhỏ tuổi nhất của tôi, để thỏa mãn tính tò mò, cháu tham gia mọi lễ nghi, hội hè và truyền thống Việt Nam. Cháu nhận thấy nói tiếng Việt ở nhà là một chuyện, nhưng ra đường thì lại hoàn toàn khác. Ðối với những việc thông thường như gọi món ăn hay hỏi đường thì biết nói tiếng Việt đúng là điều cần thiết.

Từ lúc đặt chân đến thành phố này vài tuần trước, cho đến nay, chúng tôi khám phá được thành phố nhiều hơn. Thật sự chúng tôi bắt đầu thấy thích thú. Thành phố này rất sinh động. Con người, đủ mọi lứa tuổi, đều đi tản bộ. Thanh niên thì tụ tập đầy ở các quán cà-phê. Dù cần cẩu xây dựng vươn lên khắp nơi trong thành phố Hồ Chí Minh mới, nét Sài Gòn cũ vẫn chưa xóa nhòa. Bên dưới những thép và kiếng, các khu phố Tây tầng thấp vẫn còn hiện hữu ở nhiều nơi.

NV: Ông định thực hiện điều gì, trong 3 năm tới, trong tư cách một tổng lãnh sự?

TLS Lê Thành Ân: Về lại Việt Nam sau 45 năm, về lại nơi chôn nhau cắt rốn, về lại một thành phố nơi tôi từng sống 10 năm đầu của đời mình, và thực hiện những điều ấy với tư cách tổng lãnh sự của Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại đây, quả là một vinh dự, lại vừa là đặc ân to lớn. Kỷ niệm thời thơ ấu của tôi ở Việt Nam chẳng có là bao, tuy nhiên tôi vẫn thấy như mình bị cuốn hút vào, vào văn hóa và con người của đất nước Việt Nam.

Việt Nam và Hoa Kỳ đang có một quan hệ thân hữu khắng khít, công việc của chúng tôi ngày nay không còn phải hun đúc một quan hệ mới, vì quan hệ này vẫn đang tiếp tục phát triển, và mở rộng hơn thêm.

Tôi đang cưu mang một vai trò cần phải thực hiện, tôi trông mong được nghe và cùng chia sẻ với cộng đồng nói chung, và với giới truyền thông nữa, về việc làm thế nào cổ động cho tình thân hữu được hoạt động mạnh mẽ nhất giữa hai quốc gia. Với thính giả, công cụ và phương pháp truyền thông mới, tôi tin là hình ảnh của Hoa Kỳ ở Việt Nam đã cải thiện rất nhiều suốt 15 năm qua, và ngày nay, tinh thần Mỹ Quốc là đồng nghĩa với cởi mở và tiến bộ.

Sáng kiến đặc biệt tôi dự định nhắm đến gồm việc khuyến khích trao đổi mua bán và đầu tư của Hoa Kỳ khiến cho ở Mỹ tạo thêm được công việc làm, gia tăng cơ hội học vấn đối với sinh viên có đủ điều kiện, được sang Mỹ du học, cũng như tìm cách khuyến khích những ai tốt nghiệp nên trở về để xây dựng cho nền kinh tế Việt Nam.

Hòa giải với đồng bào ở hải ngoại dĩ nhiên là vấn đề cá nhân. Tôi hy vọng tìm hiểu về nhận thức của Việt Nam, lúc trước và bây giờ, dưới nhãn quan của cả hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ. Trong tiến trình này, tôi hy vọng cải thiện được quan hệ ngoại giao giữa đôi bên.

Mục tiêu cá nhân của tôi gồm cả việc khuyến khích làm từ thiện, giúp đỡ các cô nhi viện, bệnh viện và trường học.

NV: Người ta nói, ông được nhận làm con nuôi từ hồi nhỏ?

TLS Lê Thành Ân: Nói theo nghĩa thông thường, thì không phải tôi được nhận làm con nuôi. Tôi là một trong chín anh chị em trong gia đình, và tôi thứ bảy. Tôi rời Việt Nam lúc còn bé và sống với bà dì và mẹ của dì. Dì tôi là người giám hộ hợp pháp nên tôi thường coi bà như là mẹ “nuôi” của tôi. Bà về hưu sau hơn 30 năm tận tụy phục vụ cho chính phủ Hoa Kỳ, trong cương vị chủ bút (editor) Việt ngữ và làm phát thanh cho Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA).

Về phần cha mẹ và anh chị em. Cha tôi mất năm 1972, mẹ và hai anh cùng hai chị tôi kẹt lại Việt Nam cho đến khi chúng tôi được đoàn tụ vào năm 1986 theo chương trình ODP. Ðồng thời, những người khác trong gia đình tôi hoặc đi Pháp hoặc sang Mỹ.

NV: Là di dân gốc Việt, ông thấy công việc và chức vụ mới ra sao? Ông có cảm thấy Việt Nam là “quê nhà” không?

TLS Lê Thành Ân: Công tác ở hải ngoại của tôi trong vai trò một nhà ngoại giao Hoa Kỳ đưa tôi và gia đình đi khắp nơi, Bắc Kinh, Tokyo, Kuala Lumpur, Singapore, Seoul và Paris, trong suốt hai thập niên qua. Tiếp xúc với đủ sắc dân, ngôn ngữ và tín ngưỡng, mang lại cho tôi tài sản vô giá về khả năng nhận thức về chính sách quốc tế và quốc nội đương thời.

Ði chu du nhiều, các cộng sự của tôi cũng như những liên lạc viên địa phương đã giúp tôi đến với các định chuẩn, thực hành và ý tưởng quốc tế. Sự tương tác với những nền văn hóa dị biệt giúp tôi loại bỏ được thành kiến, và quen với sự tổng quát hóa.

Tôi thấy Việt Nam là “nhà” chỉ khi nào tôi ngoắc một chiếc taxi, nhờ người tài xế đưa tôi đến một địa chỉ khó tìm, rồi anh ta quay lại và nói: “Ông nói tiếng Việt giỏi quá!”

NV: Ông có gặp khó khăn khi di chuyển tại Việt Nam?

TLS Lê Thành Ân: Ấn tượng đầu tiên của tôi đối với TP Hồ Chí Minh là hàng hàng lớp lớp xe đạp và xe gắn máy. Ðiều này gợi tôi nhớ đến Bắc Kinh vào thập niên 1990. Vì ít hệ thống đèn giao thông, việc băng qua đường là cả một chuyện lớn.

Trong dòng xe cộ, gồm xe con, xe buýt, xe đạp và xe gắn máy, khó lòng tìm được một khoảng trống để chen chân vào. Ðiều cần thiết là tư duy: bạn phải chấp nhận lối suy nghĩ rằng bạn phải qua được bên kia đường một cách an toàn. Hãy bước từ từ, và quan trọng nhất là chớ mà dừng lại, vì làm thế sẽ gây bối rối cho tài xế, lại còn gây nguy hiểm thêm cho bạn nữa. Ðiều đáng ngạc nhiên là dòng xe sẽ cuộn quanh bạn như nước chảy quanh một hòn đá.

Mẹo vặt của tôi dành cho khách du lịch là: cứ bước tới, trong khi mắt vẫn nhìn vào dòng xe đang tiến về phía mình.

NV: Ông thích món ăn Việt Nam nào nhất?

TLS Lê Thành Ân: Tôi thích nhiều món ăn Việt Nam, chẳng hạn chả giò, gỏi cuốn, chạo tôm, súp măng cua và bánh xèo. Nếu phải chọn món khoái khẩu nhất thì tôi chọn cơm tấm bì thịt nướng ăn với đồ chua. Chúng tôi sang Việt Nam đúng vào dịp Trung Thu, đi đâu cũng có thể mua được bánh Trung Thu.

NV: Ông thích nhạc sĩ Việt Nam nào nhất? Và ông thích thể loại nhạc nào nhất?

TLS Lê Thành Ân: Phải nói là Trịnh Công Sơn! Ông quá sức phổ thông trong quảng đại quần chúng, là một nhạc sĩ kiêm ca sĩ tầm cỡ mà chính nữ ca sĩ Joan Baez còn mệnh danh ông là “Bob Dyland của Việt Nam.” Ông từng là mục tiêu để cả hai miền Nam và Bắc trấn áp. Ông sáng tác những tập nhạc chất chứa nỗi hy vọng cho hòa bình và bình yên.

Mới gần đây, vợ chồng tôi đến chơi ở một phòng trà địa phương, nay thu hút đông dân trong vùng lẫn “Việt Kiều” đến nghe nhạc Việt và do một số nghệ sĩ trẻ Việt Nam trình bày. Chúng tôi rất cảm kích tài năng của những người trẻ này.

Ðể thấy tôi “lão làng,” bạn có biết rằng tôi thích đi xem hát “Cải Lương.” Cải Lương là một hình thức kịch nghệ dân gian của Việt Nam, pha lẫn giữa dân ca Nam bộ với cổ nhạc. Cải Lương có thể so với một loại thoại kịch có thêm thắt phần Vọng Cổ. Vọng Cổ (diễn giải cho văn vẻ có nghĩa là “nghĩ tưởng đến quá khứ”) là một lối hát với nhạc nền thường phụ họa bằng đàn tranh. Cải Lương thường ca ngợi giá trị đạo đức. Vở kịch được biểu thị đặc biệt bằng y phục rực rỡ đầy màu sắc; những mái tóc đẹp điểm tô sặc sỡ, những bộ chiến bào và nón trận tinh vi nghệ thuật. Lớn lên ở Việt Nam từ bé, vở tuồng tôi ưa thích nhất là Lương Sơn Bá-Chúc Anh Ðài, được viết phỏng theo truyện Tàu, nói về đôi tình nhân ưa thích bắt bướm.

NV: Xin ông cho biết đôi nét về học vấn?

TLS Lê Thành Ân: Giáo dục chính thức của tôi ở Hoa Kỳ mang đến cho tôi nhiều thuận tiện lẫn cơ hội. Quanh tôi là vô số lãnh vực chuyên môn khiến tôi tha hồ chọn lựa. Tôi lấy xong bằng kỹ sư điện vào năm 1976, rồi bằng Cao Học về Khoa Học Quản Trị năm 1978, cả hai đều từ trường George Washington University ở Washington D.C.

Tôi gia nhập ngành ngoại giao vào năm 1991 sau khi làm công chức dân chính cho Bộ Hải Quân Hoa Kỳ được 15 năm. Theo thời gian, nhờ có kiến thức về ngành kỹ thuật, tôi có khả năng hiểu được sâu hơn và có thể bàn về những vấn đề liên quan đến lãnh vực kinh doanh nói chung.

NV: Xin cám ông đã dành thời gian cho chúng tôi.

source

NGUOI VIET ONLINE

Saturday, 28 August 2010

Tổng lãnh sự Mỹ gốc Việt ra mắt tại TP.HCM


Tổng lãnh sự Mỹ gốc Việt ra mắt tại TP.HCM

Ảnh: TLSQ Mỹ
Hôm qua, Tổng lãnh sự quán Mỹ tại TP.HCM đã tổ chức buổi ra mắt tổng lãnh sự mới là ông Lê Thành Ân tại văn phòng Diamond Plaza.
Ông Lê Thành Ân, 56 tuổi, rời Việt Nam cách nay 45 năm, là quan chức gốc Việt đầu tiên giữ chức Tổng lãnh sự Mỹ tại TP.HCM và nhiệm kỳ của ông sẽ bắt đầu vào cuối tháng này. Ông cũng là người Mỹ gốc Việt giữ vị trí cao nhất trong ngành ngoại giao Mỹ hiện nay. Trước khi đến Việt Nam, ông Ân từng làm việc tại Singapore, Hàn Quốc và gần đây nhất là tại Pháp. Phát biểu với cử tọa bằng tiếng Anh và tiếng Việt, ông Ân nhấn mạnh: “Chúng ta đều hy vọng một tương lai tươi sáng cho mối quan hệ Việt - Mỹ và tôi sẽ đóng góp sức mình để xây dựng mối quan hệ ngày càng tốt đẹp”.
Thụy Miên
source
HaiVan News

Tuesday, 10 August 2010

Nữ sinh gốc Việt 17 tuổi được Harvard trao học bổng tiến sĩ


VOA Tiếng Việt Cập nhật Thứ Ba, 03 tháng 8 2010

Nữ sinh gốc Việt 17 tuổi được Harvard trao học bổng tiến sĩ

Thưa quý vị, nữ sinh người Mỹ gốc Việt 17 tuổi, Alexandria Huỳnh, mới được ba trường đại học hàng đầu của Hoa Kỳ, trong đó có Harvard, trao học bổng toàn phần để làm tiến sĩ về miễn dịch học. Ở tuổi 13, Alexandria đã học lấy bằng cử nhân theo một chương trình học sớm trước tuổi tại Đại học tiểu bang California ở Los Angeles. Mời quý vị theo dõi cuộc trao đổi của Nguyễn Trung với Alexandria Huỳnh về các nỗ lực trau dồi và học tập để đạt các thành tích như vậy.

Nữ sinh người Mỹ gốc Việt 17 tuổi, Alexandria Huỳnh

Nữ sinh người Mỹ gốc Việt 17 tuổi Alexandria Huỳnh


VOA: Xin chúc mừng Alex. Cảm giác của bạn lúc được thông báo được các trường hàng đầu của Hoa Kỳ trao học bổng toàn phần, trong đó có YaleHarvard?

Alexandria Huỳnh: Tôi không tin đấy là sự thật. Tôi cảm thấy lâng lâng trong vài ngày liền, cảm giác không gì có thể diễn tả được. Rồi khi cảm giác đó qua đi thì tôi thực sự vui. Tôi biết đấy là giấc mơ của nhiều bạn trẻ, thế nên, tôi cảm thấy thực sự may mắn vì có được cơ hội tới Harvard học.

VOA: Ở tuổi 13, bạn bắt đầu theo học chương trình đại học sớm trước tuổi của California State University, Los Angeles. Làm sao bạn có thể duy trì được khối lượng bài vở của một sinh viên lớn tuổi hơn bạn?

Alexandria Huỳnh: Chương trình học sớm Early Entrance Program (EEP) mà tôi tham gia có một hệ thống hỗ trợ sinh viên rất hiệu quả. Nhiều sinh viên lớn tuổi hơn tôi, và từng trải qua việc học tập như tôi, đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm bổ ích cho chúng tôi. Đấy là nguồn giúp đỡ lớn đối với các tân sinh viên.

Theo đuổi chương trình EEP rất khác so với những gì tôi từng tham gia, nhưng không phải là điều bất khả thi đối với một người còn ít tuổi như tôi. Tôi chỉ biết cố gắng và dành toàn bộ thời gian để học tập.

VOA
: Điều gì thôi thúc bạn cố gắng học tập tốt và đạt được nhiều thành tích đáng nể ở tuổi còn nhỏ như vậy?

Alexandria Huỳnh: Tôi luôn muốn làm được một điều gì đó quan trọng, nhất là trong việc tìm tòi, nghiên cứu, để có thể giúp ích cho các thế hệ tương lai. Thế nên, tôi luôn tâm niệm là phải làm việc hết sức để đạt được mục tiêu đó.

VOA: Có phải chính vì mục đích muốn giúp ích cho đời mà bạn theo đuổi ngành nghiên cứu y sinh?

Alexandria Huỳnh: Đúng là tôi rất thích nghiên cứu về lĩnh vực miễn dịch, vì ngành này đóng vai trò quan trọng trong việc chữa trị các loại bệnh. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta có thể tìm ra một giải pháp kiểm soát hệ thống miễn dịch, giúp mọi người chống chọi được với bệnh tật, thì điều đó sẽ giúp cho cuộc sống của nhiều người tốt hơn.

VOA
: Vậy điều bạn muốn thực hiện nhất trong tương lai?

Alexandria Huỳnh: Tôi hiện chưa rõ lắm, nhưng tôi muốn tham gia nghiên cứu để sản xuất ra thuốc và vaccine chữa bệnh.

VOA: Bạn từng tình nguyện tham gia làm việc tại một trung tâm y tế địa phương. Kinh nghiệm đó giúp ích bạn như thế nào trong tương lai?

Alexandria Huỳnh: Chính bởi muốn làm trong ngành y nên tôi muốn tiếp xúc với môi trường liên quan tới y tế và các bệnh viện. Làm tình nguyện tại đó giúp tôi hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của bệnh viện mà các bệnh nhân hay người nhà của họ có thể không biết được. Ngoài ra, chúng tôi còn được tiếp cận phòng nghiên cứu, và điều đó chắc chắn giúp ích trong công việc nghiên cứu sau này của tôi.

VOA: Một ngày bình thường của một sinh viên đại học như bạn diễn ra như thế nào?

Alexandria Huỳnh: Tôi ngủ dậy lúc 6 giờ sáng. Vì tôi sống khá xa nơi học, nên tôi phải đi mất một tiếng mới tới được trường. Sau đó, tôi học cả ngày ở trường, và khi có thời gian rảnh, là tôi lại vào phòng thí nghiệm, tiến hành các nghiên cứu tôi thấy cần thiết. Bình thường, tôi ở trường từ 9 giờ sáng cho tới 7 giờ tối. Sau đó, tôi trở về nhà trong trạng thái thường là rất mệt mỏi.

Nếu cần thì học thêm còn không thì tôi đi ngủ. Khi có thời gian, tôi lại tới trao đổi với các bạn bè cùng khóa với tôi hoặc những bạn từ ngày xưa. Ngoài ra, tôi đi trượt băng nghệ thuật một buổi một tuần hoặc chơi piano.

VOA: Với những người bạn Việt Nam muốn đạt được những kết quả đáng nể như bạn, bạn có lời khuyên gì cho họ?

Alexandria Huỳnh: Nói có vẻ sáo rỗng, nhưng nếu một khi bạn quyết tâm hết sức để thực hiện một điều gì đó mình yêu thích, bạn có thể làm mọi điều. Có thể bạn không phải là người xuất sắc nhất, nhưng nếu bạn nỗ lực không mệt mỏi vì một mục tiêu nào đó, bạn có thể đạt được bất kỳ điều gì.

Đôi khi có thể bạn cảm thấy mệt mỏi, nhưng hãy luôn nghĩ tới các mục tiêu mình đề ra và thành quả cuối cùng mà mình đạt được để vượt qua những cảm giác đó.

Tuesday, 27 July 2010

MỘT CỬ NHÂN MỸ GỐC VIỆT VÀO HỌC TIẾN Sĩ Ở ĐẠI HỌC HARVARD Ở TUỔI 17


MỘT CỬ NHÂN MỸ GỐC VIỆT VÀO HỌC TIẾN Sĩ Ở ĐẠI HỌC HARVARD Ở TUỔI 17

Trường Đại Học Cal State L.A. cho Vietnamese Daily biết em Alexandria Huynh, một sinh viên gốc Việt vừa ra trường năm nay được trường đại học danh tiếng Harvard nhận vào học chương trình tiến sĩ y khoa với học bổng toàn phần ở tuồi 17.
Em Alexandria Huynh vào đại học lúc mới tuổi 13 qua chương trình dành cho các sinh viên vào đại học sớm trước tuổi (University’s Early Entrance Program), em Alexandria Huynh mới ra trường năm nay với bắng cử nhân sinh học hạng ưu. Cal State L.A. còn cho biết Alexandria Huynh là một sinh viên ra trường với bằng cử nhân trẻ nhất từ xưa đến nay của trường.
Em Alexandria Huynh không chỉ được trường Harvard chấp nhận vào học chươnh trình tiến sĩ mà còn có các trường danh tiếng khác như Đại học Yale và Đại học Pennsylvania cũng chấp nhận em.
Em Alexandria Huynh sẽ vào học ở Harvard mùa thu này với một học bổng toàn phần. Đây là niềm hãnh diện và tự hào của người Việt khắp nơi.
Du Lê
source
HAI VAN NEWS

Friday, 16 July 2010

Cô gái bị bắt cóc 18 năm làm nô lệ tình dục nay được đền 20 triệu đô


Cập nhật lúc: 7/6/2010 6:55:56 PM


Hình Jaycee Dugard xuất hiện trên báo chí hồi năm ngoái sau 18 năm bị bắt cóc

Một cô gái bị bắt cóc làm nô lệ tình dục suốt 18 năm sẽ nhận được 20 triệu Mỹ kim tiền đền bù từ tiểu bang California sau khi cho rằng các quan chức đã không làm tròn trách nhiệm của mình để tìm ra cô trong khi đang giám sát thủ phạm.

Các dân biểu tiểu bang California đã bỏ phiếu phê chuẩn sự dàn xếp trên dành cho Jaycee Dugard, hiện 30 tuổi, và 2 con gái của cô. Họ đã xuất hiện trở lại hồi tháng 8 năm ngoái sau khi bị nhốt trong một khu vườn bí mật bởi yêu râu xanh Phillip Garrido.

Mẹ của Jaycee, bà Terry Probyn, đã gửi đơn kiện hồi tháng 2 nói rằng 3 nạn nhân vẫn không được phát hiện dù các quan chức bang đã bắt đầu theo dõi Garrido kể từ năm 1999. Garrido bị theo dõi sau khi bị kết án trước đó vì tội bắt cóc và cưỡng hiếp tại tiểu bang Nevada.

“Đó là số tiền đền bù của 3 mẹ con cho phần còn lại của cuộc đời vốn đã bị tổn thương ghê gớm trong suốt quãng thời gian 17 hoặc 18 năm”, nhà dàn xếp Daniel Weinstein nói.

Các thành viên gia đình Dugard xác nhận 3 mẹ con Jaycee đã bị tổn thương ghê ghớm cả về tâm lý, thể chất và tình cảm.

Ông Weinstein, một cựu chánh án toà án cấp cao quận San Francisco cho biết số tiền đền bù sẽ được sử dụng để mua cho gia đình một căn nhà, đảm bảo sự riêng tư, thanh toán chi phí học hành, đề bù thu nhập bị mất và chi trả việc điều trị trong nhiều năm. Ngoài ra, phần lớn số tiền sẽ được dành cho các khoản đầu tư lâu dài.

Vợ chồng Phillip Garrido và Nancy Garrido đã bắt cóc Jaycee vào năm 1991 khi cô mới 11 tuổi. Jaycee bị nhốt ở khu vườn sau nhà của Garrido và bị ép quan hệ tình dục. Nạn nhân đã sinh hai người con gái với yêu râu xanh Garrido.

source
TiVi TuanSan

Thursday, 1 July 2010

Ông Năm Yersin



Cập nhật lúc 2:26:08 AM - 26/06/2010

268-H1.jpg


Viện Pasteur Nha Trang.


Bài và ảnh: Trần Công Nhung


Trước 1975 ở miền Nam, ai đã cắp sách đến trường, cũng đều biết đến bác sĩ Alexandre Yersin. Theo sử liệu, ông sinh ngày 22-9-1863 tại làng Lavaux (hạt Vaud), Thụy Sĩ, tốt nghiệp Đại học Y khoa tại Paris năm 1888. Ông gốc người Pháp, năm 1865 di cư sang Thụy Sĩ, năm 1889 phục hồi quốc tịch Pháp. Đang làm việc tại Viện Pasteur Paris, ông bỗng có ý định tìm đường về Viễn Đông, đến những vùng đất nhiệt đới đầy bí ẩn mà hồi giờ ông chỉ nghe qua sách vở, bản đồ. Để thực hiện mộng ước của mình, ông Yersin nhận làm y sĩ cho một công ty tàu biển từ Địa Trung Hải, qua Hồng Hải, đến Thái Bình Dương.

Ngày 29-7-1891, lần đầu tiên ông đặt chân lên bờ biển Nha Trang và có cảm tình đặc biệt với miền đất này. Ngoài lòng đam mê, thích mạo hiểm khám phá những vùng đất mới lạ, Alexandre Yersin còn là một bác sĩ chuyên về vi trùng học, được đào tạo theo truyền thống của Pasteur (thầy của ông). Do đó, ông còn nghiên cứu những căn bệnh nhiệt đới ở vùng châu Á. Năm 1894, dịch hạch bùng phát ở Quảng Châu, rồi lan sang Hồng Kông, đã lôi cuốn ông vào công cuộc truy tìm và ngăn chặn nạn dịch. Ông là người đầu tiên tìm ra vi trùng bệnh dịch hạch, tìm được huyết thanh phòng bệnh, dập tắt được bệnh dịch ở Trung Cộng. Từ đó, tiếng tăm Yersin đã nổi bật trong ngành y khoa thế giới.

Năm 1895, Bác sĩ Yersin đến Khánh Hòa lập nghiệp. Lúc đó, Nha Trang còn là bãi cát trắng mênh mông, người dân chuyên sống bằng nghề chài lưới, tập trung ở doi đất phía Nam cửa sông Cái, gọi là xóm Cồn. Tháng 9-1895, sau khi phòng thí nghiệm Yersin (nay là Viện Pasteur Nha Trang) được hình thành, bác sĩ Yersin nghĩ ngay đến việc lập trại nuôi ngựa, để sản xuất huyết thanh chống dịch hạch. Ban đầu, ngựa được nuôi gần thành Diên Khánh. Ở đây sẵn cỏ, lúa, nhưng không đủ diện tích để lập trại và làm đồng cỏ. Sau một thời gian tìm kiếm, bác sĩ Yersin đã chọn được đất tại Suối Dầu (cách Diên Khánh hơn 10km). Lúc này, Suối Dầu còn là một cánh rừng hoang, cây cối rậm rạp - toàn cây dầu rái - thuộc địa phận làng Xuân Phú và Khánh Xuân (Diên Khánh). Với số tiền khiêm tốn của mình chung với hai bạn đồng nghiệp là Roux và Calmette góp lại, họ đã chịu đựng dẻo dai để vượt qua những khó khăn, vất vả trong quá trình khai hoang. Bác sĩ Yersin đã biến dần vùng đất Suối Dầu thành một cánh đồng bắp, lúa, thuốc lá xanh tươi với những bầy ngựa, dê, cừu, trâu, bò. Ông cũng nhập về hai giống cây mới, trồng thử nghiệm. Đó là cây quinquina, điều chế thuốc ký ninh chữa bệnh sốt rét, và cây hevea cho cao su. Hai loại cây này không chỉ đã đem lại nguồn lợi đáng kể cho Viện Pasteur Nha Trang lúc bấy giờ, mà sau này trở thành một nguồn tài nguyên giá trị cho Việt Nam và toàn Đông Dương. Đến năm 1905, Suối Dầu đã trồng được 30 hecta cao su và bắt đầu lấy mủ. Năm 1914, diện tích trồng cao su ở Suối Dầu lên đến 307 hecta trên 1.200 hecta đất trồng trọt. Số súc vật (ngựa, trâu, bò, dê, cừu) lên đến 1.500 - 2.000 con. Có thể nói, cuối năm 1914, Suối Dầu đã trở thành một trang trại hoàn chỉnh.

Từ 1902 - 1904, Yersin được toàn quyền Đông Dương (Paul Doumer) điều ra Bắc để xây dựng và làm Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Y khoa Hà Nội. Nhưng rồi ông cũng tìm cách về Nha Trang sống và làm việc cho đến cuối đời.

Yersin là người bạn gần gũi, là ân nhân của người dân Nha Trang - Khánh Hòa. Ông được dân chài gọi với cái tên trìu mến: Ông Năm (Yersin). Năm 1898, xóm Cồn có dịch tả. Suốt nửa năm, ông dành mọi nỗ lực để ngăn chặn, cứu giúp người dân nơi đây thoát khỏi bệnh dịch hiểm nghèo. Tất cả sự tận tụy đó xuất phát từ tinh thần trách nhiệm và lòng nhân hậu của ông Năm đối với xóm chài nghèo. Ông nghiên cứu thiên văn và cho dựng cột trụ cao trên nóc nhà treo đèn, báo hiệu khi có gió to và bão, để ngư dân biết không đi biển hoặc tìm nơi trú ẩn. Tháng 11-1939 có trận bão lớn đổ bộ vào Nha Trang, ông Năm đưa dân lên trú ở khu vực nhà mình, nên không ai bị thiệt hại gì. Ông sống rất giản dị thanh bạch, mặc dù ông có thừa phương tiện để hưởng thụ cuộc đời giàu sang phú quí. Ông ở trong một tòa nhà vuông, cao, hai tầng, bốn mặt nhà đều có hành lang chạy, có thể phóng mắt nhìn ra bốn phương trời, núi Trường Sơn thăm thẳm, biển Thái Bình bát ngát mênh mông. Nhà được cất trên doi đất phía nam cửa sông Cái, gọi là xóm Cồn. Quanh nhà, các loại bìm bìm, bông bụp xanh, đỏ, hồng, tím mọc đầy.

Bác sĩ Yersin là một người sống rất bình dân, thường chỉ mặc bộ ka ki màu vàng, và dù đã 80 tuổi rồi mà sáng nào ông cũng đạp xe tới viện Pasteur. Ông lại có lòng nhân ái, hay dùng thời giờ rảnh rỗi dạy dỗ thêm cho những người dân chài chất phác chung quanh nơi ông ở. Ông thương cả đến loài cầm thú, chim muông và mỗi khi gọi con vật nào cũng kèm hai chữ “người ta” ở trước: Người ta chó, người ta mèo, người ta két... Ngày 1-3-1943, bác sĩ Yersin mất tại Nha Trang, hưởng thọ 80 tuổi.

Khoảng 10 năm cuối đời, Yersin ít đi xa. Phần lớn thời giờ ông ở Viện Pasteur Nha Trang, ở xóm Cồn, ở Suối Dầu, ông có dịp gần gũi hơn với người dân. Ông yêu mến trẻ con, giúp đỡ người già đau yếu, hướng dẫn cho dân ăn ở vệ sinh. Ông còn chăm nom đời sống tinh thần của người dân địa phương. Thỉnh thoảng ông chiếu phim tại sân nhà cho dân chúng xem, phim tài liệu thế giới, phim khoa học, phim hề Charlot. Nhờ vậy mà người dân hiểu biết thêm về nhiều mặt. Cộng đồng cư dân chung quanh xem ông Năm là ân nhân, là vị thần hộ mạng của họ. Khi ông mất, họ bỏ đi biển, thương khóc, chịu tang, tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Có người lập bàn thờ dâng hương theo phong tục của người Việt Nam. Đến bây giờ hỏi thăm những lão ông, lão bà ở xóm Cồn, ai cũng bày tỏ nỗi tiếc thương, coi ông Năm như Thánh Thần. Ở một góc độ khác, tôi nghĩ, bác sĩ Yersin là hiện thân của Bồ Tát đến cứu độ dân xóm Cồn trong những thập niên đầu thế kỷ 20.


268-H3.jpg


Khách sạn Bộ Nội Vụ (nhà cũ của Yersin)


Sau năm 1975, “nhà ...” đã đập phá ngôi nhà của ông “Năm Yersin” để xây dãy khách sạn ba tầng của bộ nội vụ. Người dân Nha Trang ai cũng thương tiếc di tích của một vĩ nhân, một người suốt đời hy sinh cho dân nghèo bản xứ, lúc chết cũng chỉ muốn nằm lại nơi này. Vậy mà do tình thế, bao nhiêu ân biến thành oán.


268-H2.jpg


Công viên Yersin


Ngày nay xóm Cồn không còn nữa, thay vào đó công viên Alexandre Yersin, coi như “đền bù” phần nào công lao của ông, chuyện đáng làm, nếu không thì đã là chỗ của “khách sạn sao”. Di tích bác sĩ Yersin chỉ còn ngôi mộ trong suối Dầu và đỉnh Hòn Bà, nơi ngày xưa ông có phòng thí nghiệm. Đây cũng là “hạng mục” trong các tours du lịch của Nha Trang. Giá mà nhà ông Năm không bị phá, bao nhiêu đồ đạc, kỷ vật của ông sẽ hấp dẫn du khách biết chừng nào. Thế giới sẽ đổ về nghiên cứu thăm viếng, Việt Nam hóa chẳng được thơm lây!

Viện Pasteur trên đường biển Nha Trang do ông sáng lập, là nét văn minh của Pháp còn sót lại. May mắn là Viện không chung số phận với nhà ông Năm, và được giữ nguyên vẹn kể cả màu sơn tường. Nhưng, điều đáng buồn là vào trong, lối làm việc của nhân viên ngày nay thật không ra làm sao cả. Có lần tôi đến phòng xét nghiệm, bảng chỉ dẫn ghi: “Lấy số chờ gọi”. Tôi chờ rất lâu cũng chẳng biết họ gọi đến số nào, trong khi nhiều người vào là đến cửa sổ làm thủ tục ngay. Khi tôi hỏi, thì bà nhân viên trả lời tỉnh bơ: “Bác muốn xét nghiệm gì? Ghi vào đây đóng 20 ngàn rồi chờ kêu tên”. Tôi ngớ ra định hỏi lại mấy câu, nhưng chợt nhớ nhà thơ Bút Tre nên thôi. Ông đã viết:


"Tiến lên, ta quyết tiến lên,

Tiến lên, ta quyết tiến lên hàng đầu.

Hàng đầu không biết đi đâu,

Đi đâu không biết hàng đầu cứ đi."


Dẫu sao cũng phải biết ơn Alexandre Yersin, có ông nay mới có một nơi cho dân chúng đến nhờ. Nha Trang còn có đường Yersin, một trong những con đường đẹp, tập trung nhiều cơ sở kinh doanh, bệnh viện, chạy từ đầu ngõ vào thành phố ra tận bờ biển (1). Tên tuổi Yersin không chỉ là điểm son về văn hóa, mà còn là một nhãn hiệu cho kinh doanh du lịch, vậy mà một thời đã bị sỉ vả như một tên thực dân mắt xanh mũi lõ. Người Nha Trang ngày nay tự an ủi: “Viện Pasteur, đường Yersin vẫn còn, lại thêm công viên Yersin, bấy nhiêu cũng mát mẻ cho linh hồn ông Năm và cũng là niềm vui của dân địa phương”.

Di tích bác sĩ Yersin còn khu mộ trong suối Dầu và đỉnh Hòn Bà, tôi sẽ đi thăm trong những ngày sắp tới.


Trần Công Nhung

03- 2004

(1). Đường Yersin sau 75 có lúc đã được đổi tên “Y Éc Sanh”, nay (2009) đã được mở rộng hơn trước, nhưng không là đại lộ.



source

Vien Dong Daily

Sunday, 20 June 2010

Những người cha nhọc nhằn, lao khổ



Cập nhật lúc 1:56:09 AM - 16/06/2010

chavn1.jpg


Lang thang bán sen, bán cau kiếm sống – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông


Cỏ May/Viễn Đông


Nói đến công lao của người Cha thì ca dao từng ví như núi Thái Sơn. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, có nhiều sự khó thì những người cha càng chịu thêm nhiều áp lực trong vị trí trụ cột gia đình. Tuy nhiên, ở Việt Nam, cuộc sống cơ cực của những người cha nghèo khó còn tăng cao gấp bội bởi sự thiếu thốn về vật chất cũng như tinh thần.


chavn2.jpg


Cụt hai chân nhưng vẫn phải bơi xuồng để vớt ve chai – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông


chavn3.jpg


Thả lưới – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông


chavn4.jpg


Vót nan đan lợp đan lờ – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông


chavn5.jpg


Giăng lưới – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông


chavn6.jpg


Bắt cá – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông


chavn7.jpg


Còng lưng – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông

chavn8.jpg


Rất hiếm hoi… còn có những người cha sống đến tuổi nầy – ảnh: Cỏ May/Viễn Đông

source

Viễn Đông Daily