Friday, 28 January 2011

Đại hội các Giám mục châu Á lần thứ 10 sẽ diễn ra tại Việt Nam


VIỆT NAM -
Bài đăng : Thứ sáu 28 Tháng Giêng 2011 - Sửa đổi lần cuối Thứ sáu 28 Tháng Giêng 2011
Đại hội các Giám mục châu Á lần thứ 10 sẽ diễn ra tại Việt Nam
Lần đầu tiên, Liên Hội đồng Giám mục Châu Á họp đại hội ở Việt Nam (Reuters)
Lần đầu tiên, Liên Hội đồng Giám mục Châu Á họp đại hội ở Việt Nam (Reuters)
Trọng Nghĩa

Sau Đại hội lần thứ 9 tại Philippines vào năm 2009, Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) sẽ tổ chức đại hội tiếp theo vào cuối năm 2012 tại Việt Nam. Chính Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đã loan báo tin trên ngày 26/01/2011 vừa qua. Đây là lần đầu tiên Liên Hội đồng Giám mục Châu Á họp đại hội ở Việt Nam.

Phát biểu với hãng tin Công giáo Ucanews, Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn cho biết là Ủy Ban Trung ương của FABC đã quyết định như trên nhân hội nghị tại Bangkok cách nay hai tuần lễ. Đức Hổng Y và Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm, Phó Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam đã tham dự hội nghị đó.

Đại hội toàn thể của Liên Hội đồng Giám mục Châu Á được tổ chức bốn năm một lần, lần mới đây là tại Manila năm 2009. Theo Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Đại hội lần thứ 10 sẽ diễn ra vào tuần lễ thứ ba của tháng 10 năm 2012, tại Trung tâm Mục vụ của Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh. Kể từ khi được thành lập vào năm 1970, đây là lần đầu tiên mà Liên Hội đồng Giám mục Châu Á họp đại hội ở Việt Nam.

Giáo Hội Công giáo Việt Nam hy vọng nhận được danh sách những người tham gia một hoặc hai tháng trước khi khai mạc đại hội để có thời gian làm thủ tục phía chính quyền. Chỉ sau khi được chính phủ Việt Nam bật đèn xanh, thì những người tham gia mới có thể xin visa nhập cảnh. Dẫu sao thì Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn hy vọng rằng sự kiện đó sẽ thúc đẩy tình đoàn kết, tình huynh đệ và hiệp thông giữa các Giáo Hội tại châu Á.

Theo hãng tin Ucanews, FABC là một hiệp hội tự nguyện của các Hội đồng Giám mục nhằm thúc đẩy tình đoàn kết giữa các thành viên của mình, vì lợi ích của Giáo Hội và xã hội ở châu Á. Đại hội toàn thể là cơ quan tối cao của FABC, tất cả các ủy ban và cán bộ có trách nhiệm với nó.

Liên Hội đồng Giám mục Châu Á hiện bao gồm 15 thành viên là Hội đồng Giám mục các nước Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Kazakhstan, Hàn Quốc, Lào-Campuchia, Malaysia-Singapore-Brunei, Myanmar, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam. FABC còn có 10 thành viên liên kết là Hồng Kông, Ma Cao, Mông Cổ, Nepal, Kyrgyzstan, Siberia (Nga), Tajikistan, Turkmenistan, Uzbekistan và Đông Timor.

source

RFI Vietnamese

Thursday, 20 January 2011

Lòng nhân ái của một cô gái Việt trên đất Phi Châu


Lòng nhân ái của một cô gái Việt trên đất Phi Châu
Cập nhật lúc 7:27:45 PM - 17/01/2011
Thanh Phong/Viễn Đông

co-gai-Viet-tren-dat-Phi-3.jpg

Staci Phạm Ngọc Thu – ảnh: Thanh Phong/Viễn Đông.


SANTA ANA - Staci Phạm Ngọc Thu, một cô gái Việt Nam hiện cư ngụ tại thành phố Santa Ana (gần nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm trên đường McFadden), năm nay 27 tuổi, tốt nghiệp Đại Học Cal State Fullerton năm 2006, hiện còn độc thân. Staci Phạm đã tình nguyện qua Zambia, một nước nghèo tại Phi Châu, để giúp những người dân xứ này có cuộc sống tốt hơn. Phạm Ngọc Thu đã phải ăn sâu róm và chuột cùng với gia đình người Zambia mà cô cư ngụ trong nhà họ. Phạm Ngọc Thu là người Việt Nam duy nhất trong phái đoàn 51 người khắp Hoa Kỳ, tình nguyện qua giúp Zambia theo chương trình “Peace Corps” của chính phủ Mỹ. Chiều ngày 14-1-2011, chúng tôi đến gia đình bố mẹ cô để nghe cô Staci Phạm kể về cuộc hành trình từ quận Cam sang Zambia, Phi Châu, với tấm lòng nhân ái của một người con gái Việt Nam.
Trước khi nghe cô Staci Phạm kể chuyện đi Zambia, phóng viên Nhật báo Viễn Đông hỏi: “Động lực nào thúc đẩy cháu đi sang Phi Châu giúp người dân Zambia, và trước khi đi, cháu có tìm hiểu về cuộc sống bên đó như thế nào không?”.

co-gai-Viet-tren-dat-Phi-4.jpg

Gia đình Staci Phạm, từ phải, ông Joseph Phạm Thiện (bố), Staci Phạm, bà Thiện bế cháu ngoại và Phạm Hạnh, chị ruột Staci Phạm – Staci Phạm còn một em gái Phạm Mỹ Trâm vắng mặt lúc chụp ảnh – ảnh: Thanh Phong/Viễn Đông.

Staci Phạm mỉm cười trả lời: “Khi còn học trung học, cháu vẫn thường xuyên đi làm việc thiện nguyện, cháu mang đồ ăn cho người nghèo, đa số là người Mexico. Cháu đến những cô nhi viện, giúp các em mồ côi ăn, đưa chúng đi chơi, kể chuyện cho chúng nghe, cháu thấy những người nghèo rất tội nghiệp và chỉ mong sao có điều kiện giúp họ. Sau khi tốt nghiệp đại học tại Cal State Fullerton tháng 12-2006, cháu xin phép bố mẹ được đi xa để làm việc thiện nguyện. Bố mẹ cháu không những không ngăn cản, còn khuyến khích cháu. Lúc đó cháu được bạn bè giới thiệu website: www.Peacecorps.gov; cháu vào xem và biết đang có chương trình ghi danh đi Zambia, Phi Châu. Cháu liền vào Internet tìm hiểu về nước Zambia, và cháu hết sức xúc động, khi nhìn thấy hình ảnh đói khổ của người dân Zambia mà cháu chưa bao giờ nhìn thấy trong đời. Cháu là người Công giáo, cháu nghĩ Chúa ban cho mình được sống ở đất nước Hoa Kỳ quá đầy đủ về thực phẩm, quần áo như thế này; trong khi ở những nơi như Zambia, họ quá thiếu thốn mọi thứ, họ còn lạc hậu quá, thì tại sao mình không sang giúp họ. Nghĩ vậy, cháu ghi danh và được gọi đi cùng với 51 người khắp Hoa Kỳ; nhưng chỉ có cháu là người Việt Nam duy nhất mà lại là con gái. Sau một thời gian ở bên đó, có 10 người chịu không nổi đã bỏ cuộc xin về”.
Trước khi đáp máy bay đi Zambia, 51 người tình nguyện được lệnh tập trung về Philadelphia để nghe phổ biến về các thủ tục cũng như sinh hoạt và công tác bên Zambia. Sau đó mọi người rời Hoa Kỳ vào ngày 19-2-2008, máy bay bay khoảng 20 hay 30 tiếng mới tới Zambia. Xuống phi trường có nhân viên của Peace Corps ra đón, rồi phân tán đi nhiều vùng khác nhau, mỗi vùng một số người.

co-gai-Viet-tren-dat-Phi-2.jpg

Hai người Zambia sắp làm thịt chuột – ảnh: Staci Phạm cung cấp.


* “Nhập gia tùy tục”

Staci Phạm được đưa đến gia đình một người Zambia, mà cô tạm gọi là “bố mẹ nuôi”. Ở đây, cô đi học tiếng Zambia, mỗi ngày học 4 tiếng, sau đó học tiếp 4 tiếng về bệnh lao, bệnh HIV và một số bệnh khác để biết cách phổ biến, dạy lại cho người Zambia sống ở vùng hẻo lánh.
Gia đình bố mẹ nuôi giúp giặt quần áo và nấu ăn cho cô, nhưng Staci Phạm nói, thức ăn chính của người dân Zambia là cháo bắp, họ ăn hàng ngày như người Việt ăn cơm mà không ngán. Ở đây có hai mùa, họ ăn hai loại khác nhau, là sâu róm (tháng 10, 11) và nấm để có protein. Staci Phạm cho chúng tôi xem hình một con sâu róm chụp trước khi cô ăn. Cô nói: “Mới đầu cháu nhìn con sâu này cũng sợ lắm, lúc đầu nó còn nhỏ, nó ăn mấy lá cây mới ra và nó lớn mau như thổi, to bằng ngón tay. Ở đây không có bán bất cứ thứ thịt gì, nên người dân Zambia bắt sâu về, họ hơ trên lửa cho cháy hết lông, sau đó chiên dòn và ăn. Cháu đã phải ăn khoảng 10 con sâu như thế, vì nếu không ăn, trong người không có protein là dễ đổ bệnh. Ăn rồi thấy cũng ‘được’! Sau đó có màn ăn chuột, cũng để có protein. Họ bắt chuột về, đập chết sau đó nướng trên lửa cho cháy hết lông, rồi chiên lên xé ra ăn ngon lành, cháu cũng ăn”. Staci nói: “Cái gì họ cũng chiên”.
Người dân Zambia nhìn Staci Phạm đều nghĩ cô là người Hoa hay người châu Á, hoàn toàn không biết, không nghe nói đến hai chữ Việt Nam bao giờ. Cô phải mang theo tấm bản đồ, mở ra và chỉ nước Việt Nam cho họ thấy rằng, cô là người Việt, để họ biết không chỉ có người Hoa, mà còn có người Việt Nam, cũng đầy lòng nhân ái. Staci Phạm vừa cười vừa kể: “Bên Zambia họ cứ nghĩ ở Mỹ là thiên đàng, sung sướng lắm, không có ai bị bệnh, nhất là bệnh HIV, không có ai hút cần sa, ma túy. Họ đâu biết rằng, người dân Mỹ cũng có quá nhiều cái lo, lo trả bill, lo tiền nhà và đủ thứ”. Cô nói cho họ biết và họ có vẻ ngạc nhiên, không tin.

Stacy0626.jpg

Staci Phạm công tác tại Zambia – ảnh: Staci Phạm cung cấp.


* Sống với người dân
Sau khi học 9 tuần, cơ quan Peace Corps đến trắc nghiệm, nếu không đậu thì phải học tiếp. Staci Phạm nói: “Cháu may mắn đậu”. Sau đó họ chuyển cô về miền bắc Zambia. Cơ quan Peace Corps cho cô ở một cái nhà riêng một mình, có cái nhà vệ sinh làm phía sau gần giống như ở đồng quê Việt Nam, nhà nhỏ và mưa là dột, phòng tắm thì sơ sài và không có vòi sen như ở Mỹ, nước phải đi lấy từ xa, nên cô gọi một em bé Zambia 14 tuổi, không được đến trường vì gia đình quá nghèo đến và bảo: “Nếu em giúp lấy nước về cho tôi, giúp tôi vài việc vặt, tôi cho tiền em đi học”. Nghe vậy em đó mừng lắm. Mỗi ba tháng, Staci Phạm cho em 50 Mỹ kim. Cô nói với chúng tôi: “50 Mỹ kim bên đó lớn lắm, vì cháu mua cà chua, tính ra chỉ có 2 cent một pound, nên 50 Mỹ kim giúp em đó không những được đi học mà còn dư tiền mua quần áo, sách vở nữa”.
Chúng tôi hỏi: “Cô lấy tiền túi ra cho hay sao?”. Staci Phạm trả lời: “Đi Phi Châu, mỗi tháng chính phủ Mỹ tài trợ 200 Mỹ kim một người. Ở đây không có cái gì để mua, muốn mua gạo và thực phẩm phải đi mất 3 tiếng lái xe, nên cháu chỉ ăn rau với bắp giống người dân Zambia”. Cô cười và nói tiếp: “Và lâu lâu ăn sâu róm, ăn chuột nữa nên dư tiền. Cháu lấy tiền đó trả cho em 14 tuổi giúp mình, và thỉnh thoảng mua kẹo cho các em nhỏ, chúng nó thích lắm”.
Công việc của Staci Phạm là hàng ngày dạy cho khoảng 20 người dân Zambia, cả người lớn lẫn trẻ em về bệnh AIDS, bệnh lao và hướng dẫn họ giữ gìn vệ sinh. Tổng số người được Staci Phạm dạy là 123 người. Cô nói, ở bên đó họ mắc bệnh AIDS và chết nhiều lắm, hầu như không tuần nào cô không đi dự đám ma, vì họ không biết cách ngừa bệnh.
Thiếu nữ Zambia 14, 15 tuổi đã lấy chồng, sinh con, nên khi họ hỏi Staci bao nhiêu tuổi, cô nói số tuổi ra, và họ ngạc nhiên hỏi, tại sao chưa lấy chồng? Họ muốn cô lấy chồng người Zambia, họ sẽ lo liệu hết cho, nhưng Staci Phạm tìm cách từ chối, vì còn phải đi giúp nhiều nơi khác.
Khi chúng tôi hỏi: “Suốt thời gian ở Zambia, điều gì làm cháu buồn nhất?”. Cô trả lời: “Cháu thấy người ta chết nhiều nhất, mỗi lần có người chết, đàn bà họ gào lên thật lớn, khóc la thê thảm. Khi có người chết, những người đàn ông trong làng ra dùng tay không đào cái lỗ, rồi bỏ hòm người chết xuống lấp đất lại. Hòm cũng thô sơ lắm, cháu chứng kiến quá nhiều người chết, nên cháu buồn!”.
Chúng tôi hỏi: “Thế chuyện gì làm cháu vui nhất?”. Staci Phạm lại mỉm cười đáp: “Cháu thấy cả người lớn lẫn trẻ con đều vô tư, tuy rất nghèo khổ mà chẳng thấy họ biểu lộ sự buồn khổ hay lo lắng gì cả; nhất là các em nhỏ, lúc nào cũng vô tư. Người lớn thì ai cũng nghĩ Mỹ là thiên đàng trên địa cầu, ở đó chẳng phải lo bệnh tật gì, được ăn thịt, được ở nhà đẹp, tha hồ tắm có vòi nước xịt, không cần phải đi lấy nước từ xa, nên họ cứ mong cháu lấy họ để họ được đi Mỹ. Cháu cứ nghĩ tới mấy cái đó là thấy thật là vui”.
Thấm thoắt, thời gian công tác hai năm ở đất nước Zambia nghèo khổ cũng chấm dứt. Ngày 13-4-2010, Staci Phạm trở về Hoa Kỳ, trước sự lưu luyến chia tay của rất đông người dân Zambia. Trước ngày chia tay, nhiều người Zambia vẫn muốn cô ở lại, lấy chồng và lập nghiệp tại xứ sở này, nhưng…

co-gai-Viet-tren-dat-Phi-Ch.jpg

Con sâu róm trước khi Staci Phạm ăn thịt – ảnh: Staci Phạm cung cấp.

* Đường còn dài...
Staci Phạm tâm sự với chúng tôi: “Cháu thấy cháu còn trẻ, cháu chưa nghĩ tới việc lập gia đình. Cháu sẽ đi tiếp, chắc chắn như vậy, nhưng lần này không phải Phi Châu, mà có thể đi Campuchia, Thái Lan, hay cũng có thể Việt Nam; vì càng đi, cháu càng thấy mình được Thiên Chúa ban cho quá sung sướng, trong khi người ta chịu cảnh quá nghèo khổ và lạc hậu, thiếu thốn đủ thứ, nhất là thực phẩm và thuốc men. Cháu thấy tội nghiệp họ quá, nên cháu xin phép bố mẹ đi tiếp. Cháu không sợ cực khổ, ăn gì cũng được, miễn là giúp người nghèo khổ là cháu vui”. Cô cho biết, mỗi năm cơ quan Peace Corps tổ chức hai đợt, “vì vậy bạn nào muốn đi như cháu, xin vào trang nhà www.Peacecorps.gov để biết mà ghi danh”.
Phóng viên nhật báo Viễn Đông chúng tôi chia tay với Staci Phạm và gia đình cô, chúng tôi nghĩ rất nhiều người Việt Nam mình có lòng từ tâm, đi làm việc thiện nguyện khắp nơi, giúp tiền bạc, thực phẩm cho người vô gia cư; nhưng có lẽ ít ai làm được như Staci Phạm Ngọc Thu, một người con gái Việt, đang sống hạnh phúc bên bố mẹ, chị, em, lại tình nguyện đi sang Phi Châu, sống cuộc sống cực khổ, thiếu thốn, ăn sâu róm, ăn thịt chuột cả mấy năm trời để giúp những người nghèo khổ. Staci Phạm đã làm cho người dân Zambia, Phi Châu, biết đến dân tộc Việt Nam, và cộng đồng Việt Nam hải ngoại, tuy nhỏ bé nhưng không thiếu lòng từ tâm đối với những người bất hạnh.

© ViễnĐôngDailynews
source
Vien Dong Dailly

Saturday, 15 January 2011

Tổng Giám mục Leopoldo Girelli - đại diện không lưu trú của Toà thánh La Mã ở Việt Nam


Cập nhật: 03:04 GMT - thứ sáu, 14 tháng 1, 2011

Vatican bổ nhiệm đại diện ở Việt Nam

Leopoldo Girelli

Tổng Giám mục Leopoldo Girelli cũng là Khâm sứ ở Indonesia

Đức Giáo hoàng Benedict XVI vừa chính thức chỉ định Tổng Giám mục Leopoldo Girelli làm đại diện cho Toà thánh Vatican tại Việt Nam.

Vị Tổng Giám mục không lưu trú mà sẽ chỉ thường xuyên đến Việt Nam, theo tin của các nguồn Công giáo.

Ngài cũng là Khâm sứ của Giáo hoàng tại Singapore và đại diện cho Toà Thánh trong quan hệ với Malaysia và cả Brunei, hai nước không có quan hệ ngoại giao với Vatican.

Các bản tin cho hay trong quyết định công bố hôm 13/1, Vatican nói TGM Girelli cũng đã làm Khâm sứ của Toà thánh ở Indonesia.

Chức danh của Ngài trong quan hệ với Việt Nam là "đại diện không lưu trú của Toà thánh La Mã" và hiển nhiên là thấp hơn chức danh Khâm sứ, tức Đại sứ của Vatican ở Singapore.

Đây không phải là lần đầu tiên Vatican hay một quốc gia chỉ định một vị đại sứ kiêm nhiệm vai trò đại diện của mình trong quan hệ với một loạt quốc gia.

Tuy nhiên, với Việt Nam, việc bổ nhiệm này dù sao cũng được một số báo Công giáo trên thế giới coi là bước tiến triển trong quan hệ hai bên mà họ cho là bị gián đoạn từ 1975.

Còn riêng trong quan hệ với Bắc Việt Nam, vị khâm sứ cuối cùng của Toà thánh phải rời Hà Nội sau khi những người (...) làm chủ miền Bắc trong thập niên 1950.

Cải thiện quan hệ

Việc tranh chấp toà Khâm sứ, địa chỉ cuối cùng của đại sứ Toà thánh tại Hà Nội, giữa khối Công giáo và chính quyền thành phố là một trong những lý do khiến quan hệ hai bên xấu đi từ cuối 2007.

Nhưng gần đây, với việc Tổng Giám mục Hà Nội Joseph Ngô Quang Kiệt phải ra đi, hai bên đã dần bồi đắp lại quan hệ.

Đại lễ Năm Thánh của Giáo hội Công giáo Việt Nam vừa kết thúc tuần đầu tháng 1/2011 tại La Vang, với sự tham gia của Đức Hồng y Ivan Dias, đặc sứ của Đức Giáo hoàng.

Tuy vậy, giới quan sát tin rằng cũng phải mất thời gian hai bên mới tiến tới bình thường hóa hoàn toàn quan hệ ngoại giao.

Dù có chừng 7-8 triệu giáo dân, đông thứ nhì châu Á, chỉ sau Philippines, Việt Nam vẫn như Trung Quốc, chưa lập quan hệ ngoại giao với Vatican.

Sinh năm 1953, vị Tổng Giám mục người Ý gia nhập ngành ngoại giao của Vatican năm 1987.

Trước khi nhận chức vụ tại Indonesia, Ngài đã phục vụ ở Cameroon, New Zealand và Hoa Kỳ, và cũng có thời gian làm việc ngay tại Toà thánh ở Roma.

source

BBC Vietnamese

Saturday, 8 January 2011

Đại lễ La Vang


Cập nhật: 14:59 GMT - thứ năm, 6 tháng 1, 2011

Đại lễ La Vang

source

BBC Vietnamese



Monday, 13 December 2010

Khi người con gái, tự tình với Quê Hương


Khi người con gái, tự tình với Quê Hương
Cập nhật lúc 11:07:09 PM - 11/12/2010

ht, nguyễn

QA-7.jpg

Không sáng lung linh như ngọc, bởi cái dung dị, mộc mạc của một cô gái từ ánh mắt đến nụ cười.


Nhưng lại trong veo như thể là suối nguồn, một thứ tinh khiết hiếm hoi mà không phải cô gái đôi mươi nào cũng có được trong cái thế kỷ 21 này. Đó chính là Phạm Quỳnh Anh, người con gái đã thổi hồn đất nước Việt Nam vào từng con tim, qua bài hát “Bonjour Việt Nam”.

Sinh ra và lớn lên thuần thục trong một gia đình, mà bố là người Hà Nội, du học tại Bỉ 1971, và mẹ là người miền Nam; họ gặp nhau vào năm 1982. Sau đó 5 năm thì Quỳnh Anh chào đời vào một ngày của mùa Xuân, ngày16-1-1987. Và một em gái tên Lisa năm 1992 nữa. Ba mẹ luôn luôn dẫn dắt cô con gái yêu vào cội nguồn, bằng những buổi biểu diễn đóng góp dân ca cho cộng đồng Việt Nam tại đây, với một nhóm có cái tên là “Hy Vọng”. Và xem ra đây thì cũng chính là cái tên của định mệnh, dành cho một cô gái thuần chủng Việt Nam có ánh mắt với niềm tin Hy Vọng tràn trề sức sống của tuổi đôi mươi mỗi khi biểu diễn.

Thành phố Liege, nơi mà con sông Meuse đẹp nhất Châu Âu, cũng là nơi mà Quỳnh Anh được sinh ra và lớn lên. Lại một lần nữa, phải chăng là những dòng nước trong suốt đã cuồn cuộn vào tận cùng âm sắc, từ một cô gái có giọng hát ru, đến từng con tim người thưởng ngoạn.

Đài Truyền Hình Bỉ RTBF với cuộc thi hát Vì Vinh Quang vào tháng 9-2000, giải nhất, giải Vinh Quang đã thuộc về Quỳnh Anh, và bước đầu khởi nghiệp cho sự nghiệp ca hát của Quỳnh Anh cũng bắt đầu từ đây.

Năm 2002, bản hợp đồng đầu tiên của sự nghiệp được ký kết với Universal.

QA-4.jpg

Năm 2005 là năm để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong bước đường đi vào sự nghiệp ca hát của Quỳnh Anh. Vào tháng 3 năm đó, nhạc sĩ Marc Lavoine viết bài “Bonjour Việt Nam” dành riêng cho một Quỳnh Anh. Tháng 4 thì cô ca sĩ lại cùng sánh vai với chàng nhạc sĩ trong bài hát mang tên “J’espère - Tôi Hy Vọng”. Đẹp làm sao ánh mắt hồn nhiên, không chút nghi ngại của Quỳnh Anh khi biểu diễn “J’espère”, đẹp làm sao những tràng pháo tay ròn rã và tiếng hát hòa theo của mọi người. Ngay từ phút đầu tiên xuất hiện, cả phòng mọi người đều đứng bật dậy như thể một trông chờ, một khát khao! Đẹp hơn tất cả là cái nắm chặt tay của chàng thanh niên có tuổi đời xấp xỉ gấp đôi tuổi của nàng, Marc Lavoine, như thể là một nâng đỡ, một dìu dắt, một hứa hẹn giữa hai người khi đi vào thế giới của âm nhạc. Riêng tôi muốn sống! Muốn được sống nhiều hơn khi nghe J’espère.

Cũng nên nói thêm về cái khoảng khắc định mệnh họ gặp nhau, để có một bài hát tại thành phố Bruxelles, và Marc Lavoine đã nói về Quỳnh Anh: “Ca khúc này đặc biệt. Tôi muốn hát chung với một ca sĩ nào có khuôn mặt diễn tả niềm hi vọng. Và tôi đã tìm thấy Quỳnh Anh ở Bruxelles. Tôi viết bài Bonjour Vietnam cho Quỳnh Anh”. Có phải chăng định mệnh ca hát của Quỳnh Anh bắt đầu từ hai chữ Hy Vọng. (Hy Vọng, đầu tiên từ tên của nhóm hát. Hy Vọng thứ hai là tên của bài hát. Hy Vọng thứ ba, là sự tìm kiếm của nhạc sĩ Marc Lavoine về một cô gái có khuôn mặt diễn tả niềm Hy Vọng).

Raconte moi ce nom étrange et difficile à prononcer
Que je porte depuis que je suis née.
Raconte moi le vieil empire et le trait de mes yeux bridés,
Qui disent mieux que moi ce que tu n’oses dire.
Je ne sais de toi que des images de la guerre,
Un film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère ...
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à ton âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam.
Raconte moi ma couleur, mes cheveux et mes petits pieds,
Qui me portent depuis que je suis née.
Raconte moi ta maison, ta rue, racontes moi cet inconnu,
Les marchés flottants et les sampans de bois.
Je ne connais de mon pays que des photos de la guerre,
Un film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère ...
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam.
Les temples et les Bouddhas de pierre pour mes pères,
Les femmes courbées dans les rizières pour mes mères,
Dans la prière, dans la lumière, revoir mes frères,
Toucher mon âme, mes racines, ma terre...
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme.
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam (2 fois).

Bonjour Vietnam – Marc Lavoine

Năm 2008, Bonjour Việt Nam được chuyển dịch sang Anh Ngữ: Hello Việt Nam - đã được Quỳnh Anh lần đầu tiên ra mắt cộng đồng người Việt Nam ở Little Saigon, Orange County, miền Nam California, Hoa Kỳ, trong chương trình Đại Nhạc Hội “Tình Ca Việt Nam”, do Trung Tâm Thúy Nga tổ chức, vào Tháng 5-2008.

Tell me all about this name, that is difficult to say.
It was given me the day I was born.
Want to know about the stories of the empire of old.
My eyes say more of me than what you dare to say.
All I know of you is all the sights of war.
A film by Coppola, the helicopter's roar.
One day I'll touch your soil.
One day I'll finally know your soul.
One day I'll come to you.
To say hello... Vietnam.
Tell me all about my colour, my hair and my little feet
That have carried me every mile of the way.
Want to see your house, your streets. Show me all I do not know.
Wooden sampans, floating markets, light of gold.
All I know of you is the sights of war.
Hello Vietnam lyrics on
A film by Coppola, the helicopter's roar.
One day I'll touch your soil.
One day I'll finally know your soul.
One day I'll come to you.
To say hello... Vietnam.
And Buddha’s made of stone watch over me
My dreams they lead me through the fields of rice
In prayer, in the light…I see my kin
I touch my tree, my roots, my begin
One day I'll touch your soil.
One day I'll finally know my soul.
One day I'll come to you.
To say hello... Vietnam.
One day I’ll walk your soil
One day I’ll finally know my soul
One day I’ll come to you
To say hello…Vietnam
To say hello…Vietnam
To say xin chào… Vietnam

Hello Việt Nam

“… trong lời nguyện cầu, trong ánh sáng, tôi thấy lại những người anh. Tôi về với tiếng lòng, với cội nguồn, với đất mẹ quê cha... Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn tôi. Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam”. Lời của bài hát như xoáy vào từng con tim người Việt tha hương, lại thôi thúc bước chân của thế hệ trẻ, của bất kỳ một ai chưa từng đặt chân đến xứ sở này. Quỳnh Anh đã diễn tả giấc mơ của mình bằng câu nói “Tôi muốn trầm mình trong mùi hương Việt Nam”, và tháng 11-2009 vừa qua, cô đã đến, và để lại những ấn tượng và cảm tình rất Việt Nam trong lòng mỗi người Việt Nam tại quê nhà

QA-5.jpg

Tôi muốn nói cảm ơn nhạc sĩ Marc Lavoine đã làm nên một Bonjour Việt Nam, một Quỳnh Anh và ngay cả một Việt Nam trong tim chúng tôi, và tim mọi người… tim tuổi trẻ Việt Nam.

“I Say Gold” cũng là một bài hát làm nên tên tuổi Quỳnh Anh. Lần này thì Quỳnh Anh có vẻ chững chạc hơn, bởi giờ đây Quỳnh Anh đang là sinh viên năm thứ 2 Khoa Văn chương rồi… Nhưng tôi mong làm sao Quỳnh Anh ơi, hãy giữ mãi chân tình của một cô gái Việt Nam. Tôi mong muốn Quỳnh Anh sẽ là một quả ngọt của cuộc đời này, hơn là một cánh hoa đẹp của cuộc đời. Bởi tôi tin vào nhân cách và đức hạnh của một Quỳnh Anh. Trong sáng và chân tình!
source
Vien Dong Daily

Saturday, 4 December 2010

Người lập ra các tiệm bánh mì Lee's Sandwiches không còn nữa


VOA Tiếng Việt Cập nhật Thứ Bảy, 04 tháng 12 2010

Người lập ra các tiệm bánh mì Lee's Sandwiches không còn nữa

Ông Lê Văn Bá, được xem là người sáng lập hệ thống cửa hàng bánh mì Lee's Sandwiches tại Hoa Kỳ, đã qua đời trong tuần qua, thọ 79 tuổi. Dịp này, chúng tôi xin giới thiệu một doanh nghiệp được xem là thành đạt nhờ sự chịu khó và đoàn kết của một gia đình.

Một cửa hàng Lee Sandwiches tại San Jose, California
Hình: Phuoc BM

Một cửa hàng Lee Sandwiches tại San Jose, California


Gia đình ông Lê Văn Bá đến định cư tại San Jose, California năm 1980. Thời gian mới đến, người con trai cả của ông, Lê Văn Chiêu, ngoài thời giờ đi học Anh văn, đi phụ bán hàng cho một chiếc xe bán thức ăn dạo chung quanh các hãng xưởng của thành phố.

Một năm sau, anh Chiêu mua chiếc xe bán thức ăn dạo đầu tiên. Một năm sau nữa, 1982, cùng với người em là Henry Lê, anh Chiêu lập ra công ty ''Lee Bros.'', anh em họ Lê, lấy họ của gia đình làm tên công ty, nhưng phải sửa “Lê” thành “Lee” cho người Mỹ dễ đọc.

Từ khởi điểm khiêm nhường đó, họ đã tạo ra một công ty cung cấp thức ăn lớn trong vùng San Jose, phục vụ hơn 500 xe bán thức ăn dạo trên khắp vùng, mỗi xe là một người chủ riêng, trong đó có nhiều người là Việt Nam.

Năm 1983, bố mẹ anh Chiêu là ông bà Lê Văn Bá, bắt đầu bán loại bánh mì kiểu Việt Nam trên một chiếc xe đậu trên một góc phố của thành phố San Jose, chủ yếu nhắm vào khách hàng người Việt Nam.

Sau đó họ bỏ chiếc xe để mướn một cửa hàng nhỏ trên con đường này để mở tiệm bánh mì kiểu Việt Nam đầu tiên.

Do đông khách, gia đình lại di chuyển sang một cửa hàng lớn hơn tại một con đường khác.

Năm 2001, gia đình họ Lê và các gia đình sui gia lập ra một loại cửa hàng bán thức ăn nhanh mới, vừa có món ăn Việt Nam vừa có món ăn Mỹ, đặc biệt nhất là món cà phê sữa đá bán rất chạy, và cũng mang thương hiệu là ''Lee's Coffee''.

Cửa hàng này thành công đến độ Lee's Sandwiches trở thành một trong những hệ thống cửa hàng bán thức ăn nhanh phát triển nhất tại miền Tây nước Mỹ.

Tính đến nay, hệ thống này có đến gần 40 cửa hàng tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ và dự kiến là sẽ còn tăng thêm nữa. Ngoài California, các cửa hàng này còn có mặt ở các tiểu bang Arizona, Texas và Oklahoma; phần lớn là doanh nghiệp nhượng quyền thương hiệu (franchise).

Mỗi cửa hàng đều tổ chức ngăn nắp, sạch sẽ, có đặt nhiều màn hình kể ra thực đơn bằng hai thứ tiếng. Các màn hình cũng trình bày những dịp khuyến mại, tạo cho khách cơ hội được ăn miễn phí. Nhiều cửa hàng được trang bị để khách có thể sử dụng Internet.

Tháng 10 vừa qua, Lee's Sandwiches mở một chiến dịch khuyến mại đặc biệt đánh dấu sự kiện hiếm thấy, là ngày 10 tháng 10 năm 2010, chỉ xảy ra một lần trong một thế kỷ. Trong ngày hôm đó, khách hàng nào mua 10 ly cà phê chỉ phải trả có 10 đôla hoặc nếu mua 10 ổ bánh mì, sẽ được tăng không 10 ổ.

Ông Nguyễn Bá Phúc, một người sống lâu năm tại thành phố San José, cho biết:

“Ông Lê Văn Bá, tự là Ba Thận, có tất cả 9 người con - 5 trai và 4 gái. Khởi nghiệp của ông cũng rất khó khăn. Bằng hai bàn tay trắng nhưng hai ông bà rất chịu khó, siêng năng, và nhờ có sự góp sức của các con. Ông là sáng lập viên của công ty Lee's Sandwiches; ngoài ra, ông còn là cố vấn của Giáo hội Phật giáo Hòa hảo Thuần túy Việt Nam tại hải ngoại, cựu Hội trưởng hội ái hữu An Giang Bắc California. Gia đình ông cũng đóng góp rất nhiều cho cộng đồng, và cũng là một trong những khuôn mặt rất được bà con ở Bắc Cali biết tiếng.

Trong cửa hàng của ông bánh mì là chủ yếu, ngoài ra cà phê cũng rất hấp dẫn bà con. Thêm vào đó có bán cơm, các món ăn trưa và nhiều thứ bánh trái, mình vô đó có thể lựa rất nhiều thức ăn trong ngày.

Giá cả không đến nỗi nào mắc lắm, một ổ bánh mì là hai đồng rưỡi; rồi bánh bao, bánh chưng, bánh giò; nghĩa là những gì mà Việt Nam có thì ở đây cũng đều có.”

Vào năm 2003, cơ quan phát triển các loại doanh nghiệp nhỏ của Hoa Kỳ trao giải thưởng Doanh nghiệp Xuất sắc miền Tây Hoa Kỳ cho hệ thống cửa hàng bánh mì Lee's Sandwiches'. Tại Quận Cam California, anh Lê Văn Chiêu, người con cả của ông Bá, được trao danh hiệu Doanh nhân Tiêu biểu của năm 2003. Hai năm sau, 2005, Lee's Sandwiches được tờ báo Modern Baking chuyên tường thuật về các nhà làm bánh Hoa Kỳ chọn là một trong 50 nhà làm bánh mì hàng đầu của nước Mỹ.

Ngoài thành tích kinh doanh, gia đình ông Lê Văn Bá còn tham gia các sinh hoạt cộng đồng tại nhiều nơi. Họ đã đóng góp và tham gia gây quỹ giúp nạn nhân vụ khủng bố 11 tháng 9, nạn nhân bão Katrina ở Louisiana, nạn nhân bão lụt ở Việt Nam, động đất ở Mexico, và các dịp từ thiện khác trên khắp thế giới.

Sự thành công của hệ thống cửa hàng bánh mì Lee's Sandwiches còn làm nguồn cảm hứng cho nhiều người Việt tại Mỹ mở ra các cửa hàng khác, như Bánh Mì Ba Lẹ, Bánh Mì Chè Cali, Bánh Mì Chợ Cũ, Bánh Mì Như Lan

Muốn mở một cửa hàng nhượng quyền thương hiệu của Lee's Sandwiches phải có số vốn từ 240.000 đến 1.800.000 đôla; tùy theo mình muốn có loại cửa hàng nào. Có tất cả 4 loại cửa hàng.

Loại thứ nhất, có đầy đủ thiết bị để cung cấp thức ăn cho các cửa hàng khác, ta phải chi cho hệ thống từ 1,1 đến 1,8 triệu, cọng với phí thương hiệu nhượng quyền là 75.000 đôla.

Loại thứ nhì, không có nhiều thiết bị và không sản xuất bánh mì giống như loại 1, ta phải chi cho hệ thống từ 700.000 đến 1,3 triệu, cọng với phí thương hiệu nhượng quyền là 60.000 đôla.

Loại thứ ba, không có sản xuất thực phẩm tại cửa hàng, ta phải chi cho hệ thống từ 459.000 đến 800.000 đôla, cọng với phí thương hiệu nhượng quyền là 50.000 đôla.

Loại thứ tư, là loại thấp nhất, được cung cấp đủ mọi thứ, mở tại các khu shopping, ta phải chi cho hệ thống từ 250.000 đến 420.000 đôla, cọng với phí thương hiệu nhượng quyền là 35.000 đôla.

Tất cả các cửa hàng nhượng quyền thương hiệu, mỗi tuần phải nộp cho hệ thống Lee's Sandwiches 6,9% số bán để có thể nhận được các dịch vụ như sử dụng thương hiệu, huấn luyện nhân viên, tư vấn, marketing...

Vào ngày 8 tháng 8 năm 2008, cũng toàn là số 8, Lee's Sandwiches đã khai trương một cửa hàng tại đường Hàm Nghi Quận 1 Saigon.

Là một liên doanh với một công ty Nam Triều Tiên, cửa hàng này có 100 chỗ ngồi, có những loại bánh theo kiểu phương Tây, và cũng có cà phê sữa đá từng nổi danh ở bên Mỹ. Cà phê được pha chế theo đúng công thức Mỹ để bảo đảm mùi vị giống như cà phê bán bên Mỹ. Mục đích là nhắm vào thành phần có thu nhập cao, muốn thưởng thức mùi vị của nước ngoài.

Liên doanh này dự tính phát triển sang Nam Triều Tiên, Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản.

source

VOA Vietnamese

Sunday, 28 November 2010

Madison Nguyễn Sẽ Giữ Chức Phó Thị Trưởng San Jose


November 26, 2010

Madison Nguyễn Sẽ Giữ Chức Phó Thị Trưởng San Jose

KAVITI

Thị trưởng thành phố San Jose là Chuck Reed vừa chính thức đề cử nghị viên Madison Nguyễn vào chức vụ Phó Thị Trưởng San Jose thay thế cho bà Judy Chirco sẽ mãn hạn vào ngày cuối năm 31-12-2010.Theo luật của thành phố San Jose thì buổi họp của Hội Đồng Thành Phố vào ngày 25-01-2011 sẽ bầu chọn Phó Thị Trưởng theo đề nghị của thị trưởng. Do đó Thị trưởng Chuck Reed chỉ định nghị viên Madison Nguyễn tạm thời giữ chức Phó Thị Trưởng từ ngày 01-01-2011 cho đến ngày 25-01-2011.

Nghị viên Madison Nguyễn, phải, được Thị Trưởng Chuck Reed, trái, đề cử chức Phó Thị Trưởng TP San José. Tường Linh/Việt Tribune.

Trong bản tin công bố, ông Chuck Reed nói là Madison Nguyễn đã ủng hộ mạnh mẽ dự thảo ngân sách và sự cải cách do ông đưa ra; cô đã đóng góp các ý kiến giá trị và cô sẽ là người đồng minh quan trọng của ông trong lúc giải quyết những vấn đề khó khăn.

Nghị viên Madison Nguyễn đã đắc cử nghị viên khu vực 7 vào năm 2005, trở thành người Mỹ gốc Việt Nam đầu tiên vào Hội đồng thành phố San Jose. Madison hiện là Chủ tịch Ủy ban An ninh Công cộng, Ủy ban Tài chánh và Chiến lược Hỗ trợ, có chân trong nhiều ủy ban của quận hạt Santa Clara và thành phố San Jose. Trước đó cô đắc cử chức Ủy viên Giáo dục Học khu Franklin-Mckinley, từng dạy môn xã hội học tại trường De Anza College, Evergreen Valley College.

Trước tin được đề cử chức Phó thị trưởng San Jose, Madison Nguyễn đã bày tỏ sự xúc động và nói đây là niềm hãnh diện cho cá nhân cô và cộng đồng gốc Việt Nam tại San Jose.
Sinh năm 1975, Madison Nguyễn trở thành Phó thị trưởng trẻ nhất của thành phố San Jose lớn thứ 10 Hoa Kỳ. Trước đây các nghị viên thường được đề cử chức này vào 2 năm cuối của nhiệm kỳ hai như Cindy Chavez, Dave Cortese, Judy Chirco. Riêng trường hợp của nghị viên Madison Nguyễn thì lại được đề cử vào đầu nhiệm kỳ hai, điều này thật đặc biệt và có nghĩa là cô nghị viên gốc Việt Nam có thể làm chức Phó thị trưởng San Jose trong bốn năm.

Theo kết quả chính thức của Ủy ban Bầu cử Hạt Santa Clara công bố vào chiều ngày 23-11-2010 thì Madison Nguyễn đã thắng cử nghị viên khu vực 7 với tỉ lệ 54% hơn đối thủ Minh Dương 1,215 phiếu.

Sự nghiệp chính trị của Madison Nguyễn lên thật mau mà cũng đầy sóng gió qua vụ đặt tên khu thương mại Việt Nam trên đường Story, vụ bầu cử bãi nhiệm năm 2008 và phải qua hai lần bầu cử năm 2010 mới chiến thắng và bây giờ thêm danh hiệu mới là chức Phó thị trưởng San Jose.

Madison Nguyễn tươi cười trong ngày thắng lợi việc ReCall, 13 tháng 10, 2009. Tường Linh/Việt Tribune

Hi vọng với những kinh nghiệm vui buồn từng trải và những bài học quí báu vừa qua, Madison Nguyễn sẽ làm tốt vai trò nhân vật số 2 của thành phố một triệu dân, lớn thứ 10 nước Mỹ, San Jose.-Nguồn Việt Báo

source

Viettribune Online